Nơi Thánh Mẫu hiển linh
Phủ Bóng Nguyệt Du Cung thường gọi tắt là Phủ Bóng hoặc Nguyệt Du Cung. Đền Cây Đa Bóng cùng với Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát và Lăng Mẫu là 4 nơi thờ tự trong Quần thể di tích văn hoá Phủ Dầy thuộc tỉnh Nam Định cũ, nay là tỉnh Ninh Bình mới. Tương truyền Vân Cát là nơi chúa Liễu Hạnh sinh ra, Tiên Hương là nơi chúa lấy chồng và Nguyệt Du Cung là nơi chúa hiển linh. Trong tâm thức tôn giáo thì nơi hiển linh là rất quan trọng, bởi có hiển linh mới thiêng, có thiêng mới có thờ.
Hầu như phần lớn người Việt Nam đều có tục thờ tổ tiên. Cộng đồng làng xã thờ Thành Hoàng, đó là những nhân thần, những nhân vật có thật, có nhiều công đức với dân, như những anh hùng có công đánh giặc, có công lập ra làng xóm hoặc truyền nghề cho dân. Ngoài ra nhiều người Việt còn thờ những thiên thần, tức nhân vật tượng trưng cho các thế lực tự nhiên hoặc do người đời tạo ra nhân một sự kiện xã hội, nhân sinh nào đó. Thậm chí cả quốc gia, dân tộc Việt Nam tự coi là có chung một nguồn gốc để đặt ra một ngày giỗ Quốc tổ Hùng Vương. Bên cạnh những nghi thức tinh thần này lại có tục thờ Mẫu, một tín ngưỡng dân gian đã tồn tại từ lâu đời và phổ biến ở Việt Nam.
Theo thời gian, khái niệm Thánh Mẫu được mở rộng bao hàm những nữ anh hùng trong dân gian và trong lịch sử với vai trò, quyền phép, bảo hộ, giúp đỡ, che chở hoặc trị bệnh cứu người. Những nhân vật lịch sử này được kính trọng, tôn thờ và cuối cùng được thần thánh hoá để thành một trong các hiện thân như Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Chúa xứ Thánh Mẫu, Linh Sơn Thánh Mẫu, Thượng Ngàn Thánh Mẫu… Quốc Mẫu như Quốc Mẫu Âu Cơ, Quốc Mẫu Tây Thiên; Vương Mẫu như mẹ của Thánh Gióng…
Trong tâm thức dân gian, Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã trở thành biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam tài sắc, đạo nghĩa vẹn toàn. Thánh Mẫu đã ba lần sinh hoá, thể hiện lòng hiếu nghĩa, khát vọng yêu đương, tình yêu lứa đôi chung thuỷ, thiện tâm giúp nước, giúp đời và công bằng xã hội. Thánh Mẫu Liễu Hạnh được các triều Lê – Nguyễn nhiều lần sắc phong, ban mỹ tự như “Chế Thắng Hoà Diệu Đại Vương”, xếp vào hàng “Thượng thượng đẳng tối linh thần”; trong tín ngưỡng dân gian, bà được tôn xưng là Mẫu nghi thiên hạ.

Nhà văn Lê Hoài Nam (thứ hai từ phải qua) tại Nguyệt Du Cung.
Theo thần tích và truyền thuyết dân gian, vào đêm Trung thu năm Đinh Tỵ (1557), đời vua Lê Anh Tông, Thánh Mẫu đã giáng sinh lần thứ hai vào nhà họ Lê ở thôn An Thái, huyện Thiên Bản (sau này gọi là xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cũ). Năm 18 tuổi, kết duyên cùng Trần Đào Lang người ở cùng xã. Ba năm sau Thánh Mẫu về trời ở tuổi 21. Thân xác của Mẫu đã được nhân dân an táng tại cồn cây tươi tốt tại cánh đồng xứ Cây Đa. Cũng từ đó, vào những đêm trăng sáng đầy trời, Thánh Mẫu lại dẫn một đoàn tiên nữ xuống quây quần bên gốc cây đa gần khu mộ phàm của Thánh Mẫu để múa, hát, bay lượn dưới ánh trăng vàng. Dân làng thấy linh ứng đã lập đền thờ dưới gốc cây đa để thờ phụng nên được gọi là Đền Cây Đa Bóng (hay Phủ Bóng). Đền còn có tên là Nguyệt Du Cung do các nhà nho trong làng đặt với ý nghĩa đây là nơi dạo chơi trăng của Thánh Mẫu. Vì nhớ trần gian nên được Ngọc Hoàng cho phép giáng thế, chu du nhiều nơi để ban phúc cho người lành và trừng trị kẻ ác. Sau Mẫu Liễu Hạnh quy y cửa Phật, được xếp vào hàng “tứ bất tử” của Việt Nam.
Không gian sinh thành và trở thành Thánh Mẫu vì thế không còn chỉ gắn với một địa danh cụ thể mà lan tỏa rộng khắp, đặc biệt tại tỉnh Nam Định cũ với hàng trăm di tích thờ và phối thờ. Sự kết hợp giữa thờ Mẫu và Phật giáo tạo nên hình thức thờ tự đặc trưng “tiền Phật, hậu Mẫu”.
Sau khi được Việt Nam công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 1/12/2016 tại Ethiopia.
Phủ Bóng Nguyệt Du Cung đã hòa quyện được cả hai yếu tố lễ hội và du lịch mang lại cho khách thập phương những cảm thức về tâm linh và tinh thần văn hóa để có thể linh cảm được những thời khắc giao thoa giữa trời và đất, giữa Thánh Mẫu với con người. Theo các nhà phong thuỷ học, khu di tích địa linh này là một chốn linh thiêng đặc biệt, phía trước là tiền đường có hướng chầu vào khu lăng mộ Đức Thánh Mẫu, phía đằng sau dựa vào đỉnh núi Tiên Hương, hai bên tả hữu đều có Thanh Long, Bạch Hổ cân bằng. Bên tả, Thanh Long có thế uốn lượn hiền hoà, ôm bao. Bên hữu, Bạch Hổ có thế cao đầy, vun vút. Nhìn từ xa, Phủ Bóng Nguyệt Du Cung trông giống hệt như một chiếc Ngai Quan Lớn rất vững chãi và uy nghi nằm ở ngay trung tâm của Quần thể di tích Tâm linh Phủ Dầy. Nguyệt Du Cung đã tạo nên sức hấp dẫn đối với du khách thập phương.
Nói đến Phủ Bóng Nguyệt Du Cung không thể không nhắc đến những thủ từ - đồng quan có nhiều công trạng gắn bó với di tích này. Cách đây gần 200 năm, dòng họ Trần Vũ đã đến định cư tại làng Tiên Hương, được sự cho phép của dòng họ Trần Lê - dòng họ sinh ra Liễu Hạnh công chúa - hai dòng họ phối hợp với nhau trông coi đền Cây Đa Bóng với vai trò “thủ từ đồng quan” hay “thủ nhang đồng đền”. Quan hệ thân thiết và tin tưởng giữa hai họ. Vì thế, khi họ Trần Vũ được dòng họ Trần Lê uỷ quyền thì vai trò của ông Trần Vũ Thực mang vác một trách nhiệm lớn. Ông là thủ nhang thế hệ thứ nhất, cũng là đồng quan duy nhất ở Phủ Giầy. Phủ Cây Đa Bóng trước đây chỉ là một ngôi đền nhỏ, đến thời vua Thành Thái ( 1889 - 1906). Đồng quan Trần Vũ Thực đã dốc tâm xây dựng và mở rộng đền Cây Đa Bóng có điện thờ nguy nga, tráng lệ, có lầu chuông cao đẹp, tượng Thánh Mẫu đúc bằng đồng, bát hương đồng, chuông đồng, trống đồng to đẹp tráng lệ.
Trong thời gian từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 ngôi đền bị tàn phá trong chiến tranh, đến cuối thập kỷ 80 thì Nguyệt Du Cung xuống cấp nghiêm trọng, hầu như chỉ còn hậu cung. Tuy vậy, nhờ đồng thầy - thủ nhang, Phủ Bóng vẫn còn lưu giữ một số hiện vật cổ rất quý giá từ thời Lê, thời Nguyễn, như: pho tượng Thánh Mẫu cổ bằng đồng, cao khoảng 60cm, hiện được đặt tại cung Mẫu Đệ Nhất; một chiếc trống đồng cổ đúc theo kiểu trống da, có tang và đai trống, nhưng âm thanh chẳng khác gì trống đồng Đông Sơn. Chiếc trống này được đúc thời Vua Thành Thái, tức năm Giáp Thìn (1904) do Tri phủ Nguyễn Hưng Trần Tướng Công cùng phu nhân cống tiến. Đặc biệt, đền còn lưu giữ hai tấm bia đá xanh ngọc bích tựa đề “Nguyệt Du cung bi ký” đều khắc vào năm Bảo Đại thứ 4 (1929). Ngoài ra, trong đền có một số cổ vật quý như đôi chéo có khắc chữ chìm, bát hương lớn bằng sứ cao 50 cm, in chìm dòng chữ “Tiên Hương Nguyệt Du Cung” và một số câu đối.
Đồng quan Trần Vũ Thực qua đời từ năm 1943. Cháu dâu là bà Trần Thị Nhung kế tục làm thủ nhang, cầm cự suốt thời gian này. Đến công cuộc đổi mới của Đảng, 1986, lễ hội Phủ Dầy dần dần được phục hồi, các đền phủ được tôn tạo lại trong khuôn viên cũ, mở rộng cảnh quan cho đến ngày nay. Lần lượt thanh đồng Trần Thị Nhung đến con trai là Trần Vũ Toán kế tục làm thủ nhang Nguyệt Du Cung. Thủ nhang Trần Vũ Toán là người nhân từ, trọng đạo lý, xứng đáng là người tiếp bước cha ông. Trong suốt hơn 20 năm qua, được sự ủng hộ của chính quyền, cơ quan chức năng địa phương, gia đình, dân làng, các đệ tử, du khách gần xa, thủ nhang Trần Vũ Toán đã từng bước tôn tạo, xây dựng lại Chính tẩm Nguyệt Du Cung, cung Đệ Nhị, cung Đệ Tam, xây dựng tiền đường rộng rãi, cổng Tam quan bề thế. Đồng thời, ông mua thêm đất để mở rộng diện tích sân, vườn, xây tường bao quanh khuôn viên; tạo dựng vườn hoa, trồng cây cổ thụ, cây cảnh, cây ăn quả. Ông còn xây dựng thêm nơi nghỉ ngơi, sắp lễ cho đệ tử, du khách bốn phương trước khi vào dâng lên Thánh Mẫu. Nguyệt Du Cung trở thành nơi du lịch tâm linh bề thế, trang nghiêm, rộng rãi, thoáng đãng, có cảnh quan đẹp mắt để du khách du ngoạn, thưởng thức và nghỉ ngơi. Công lao của gia tộc Trần Vũ nói chung, đồng quan Trần Vũ Toán nói riêng là không hề nhỏ.
Giờ đây, Phủ Bóng Nguyệt Du Cung là một công trình kiến trúc tâm linh hoàn hảo, khang trang với 4 cung trùng thềm điệp ốc. Phía ngoài sân đền là Tam Quan mái cong hoành tráng, với lầu chuông thật uy nghi. Nhiều người cho rằng đến Vụ Bản (cũ) mà chưa đến Nguyệt Du Cung thì coi như chưa đến Phủ Dầy.

Dưới làn mưa bụi, dòng người đi trên đường hối hả trong những tấm áo choàng. Cái se lạnh của ngày đầu đông không...
Bình luận