"Lá đỏ": khi tư duy opera kể câu chuyện Trường Sơn

Mười năm sau ngày công diễn lần đầu, Lá đỏ vẫn thường được nhắc đến như một vở opera quy mô lớn về đề tài Trường Sơn. Nhưng điều đáng bàn không chỉ là câu chuyện được kể, mà là cách kể câu chuyện ấy. Chính từ góc nhìn ấy, Lá đỏ cho thấy tư duy sáng tác của Đỗ Hồng Quân trong việc sử dụng ngôn ngữ opera để kiến tạo một câu chuyện hoàn toàn Việt Nam.

"Lá đỏ": khi tư duy opera kể câu chuyện Trường Sơn - 1

Opera "Lá đỏ" được trình diễn lần đầu năm 2016, cách đây 10 năm bởi các nghệ sĩ Đoàn Hát và Đoàn Múa Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam kết hợp cùng Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam; vở diễn kéo dài hơn hai tiếng, nghệ sĩ Đào Thị Tố Loan – giải nhất Sao Mai 2011 dòng nhạc thính phòng – đảm nhận vai chính của vở diễn

Khúc mở màn kiến tạo không gian opera

Thông thường khúc mở màn của một vở opera là nơi nhà soạn nhạc “gieo” những hạt mầm âm nhạc đầu tiên cho toàn bộ tác phẩm. Chỉ trong vài phút ngắn ngủi, người nghe đã có thể cảm nhận được không khí, màu sắc và cả những chủ đề sẽ tiếp tục phát triển ở các màn diễn sau.

Với Lá đỏ, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân cũng lựa chọn cách tiếp cận ấy. Nhưng điều đáng chú ý là, trên nền tư duy cấu trúc của opera kinh điển, ông không kể một huyền thoại phương Tây hay một bi kịch hoàng gia quen thuộc của sân khấu châu Âu, mà dẫn khán giả bước vào không gian Trường Sơn - nơi lịch sử đấu tranh, ký ức người lính và âm nhạc cách mạng Việt Nam hòa quyện trong một bản anh hùng ca đậm bản sắc dân tộc.

Ngay từ những âm thanh đầu tiên vang lên bởi dàn nhạc giao hưởng, người nghe đã cảm nhận được sắc thái sử thi bao trùm tác phẩm. Dàn kèn đồng đan xen cùng bộ gõ, bộ dây mở ra một không gian rộng lớn, trầm hùng, tạo nhịp điệu lúc như hồi ức, lúc như thôi thúc. Đó không phải là âm nhạc mô tả trực tiếp tiếng bom đạn, mà là cảm thức về một thời đại anh hùng, nơi con người bước vào thử thách với niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng và ngày chiến thắng.

Điều thú vị là trong khúc mở màn ấy, Đỗ Hồng Quân không chỉ tạo dựng bầu không khí mà còn khéo léo “gieo” vào dòng chảy giao hưởng những mô-típ âm nhạc sẽ trở lại ở phía sau của vở diễn. Một vài giai điệu gợi nhớ đến ca khúc quen thuộc về Trường Sơn chỉ xuất hiện như những tín hiệu ngắn, rồi được chuyển sang cao độ khác, tiếp tục phát triển bằng ngôn ngữ giao hưởng thay vì nhắc lại nguyên dạng. Cách xử lý này khiến người nghe có cảm giác thân thuộc nhưng không rơi vào sự minh họa hay trích dẫn đơn thuần. Ký ức âm nhạc được đánh thức, rồi được nâng lên thành chất liệu cho sự phát triển âm nhạc của một tác phẩm opera.

Sau phần dạo đầu của dàn nhạc, hợp xướng cất lên: “Ôi Trường Sơn một thời lá đỏ… Bản hùng ca Trường Sơn không bao giờ quên…”. Nếu phần dàn nhạc mở đầu tạo nên không gian sử thi thì hợp xướng xuất hiện xác lập ngay chủ đề tư tưởng của toàn bộ tác phẩm: Lá đỏ không chỉ là câu chuyện về tám thanh niên xung phong, mà còn là khúc tri ân dành cho cả một thế hệ đã đi qua chiến tranh bằng tuổi trẻ và khát vọng cống hiến.

Trong không gian ấy, nhân vật Thần Núi xuất hiện với giọng bass trầm hùng. Đây là một sáng tạo đáng chú ý của kịch bản Nguyễn Thị Hồng Ngát và cũng là điểm để Đỗ Hồng Quân mở rộng không gian âm nhạc. Thần Núi không đơn thuần là nhân vật huyền thoại, mà trở thành người dẫn dắt ký ức, chứng nhân của lịch sử và tiếng nói của chính dãy Trường Sơn. Từ lời kể của Thần Núi, quá khứ hiện lên không phải như một trang tư liệu, mà như một câu chuyện đang sống trong âm thanh của núi rừng, trong ký ức của đất nước.

Đặc biệt, khi tốp nữ thanh niên xung phong đối đáp với Thần Núi bằng câu hỏi hồn nhiên: “Họ đi về đâu?” được lặp lại 2 lần cách nhau một quãng tám, âm nhạc vẫn còn thấp thoáng chất huyền thoại trước khi chuyển hẳn sang không gian hiện thực. Chính sự chuyển tiếp tự nhiên ấy đã tạo nên một trong những thành công đầu tiên của Lá đỏ. Nó khiến cho lịch sử không xuất hiện trong tác phẩm như một bản tường thuật, mà bước vào sân khấu bằng biểu tượng, bằng thi ca và bằng âm nhạc.

Đến khi những cô gái thanh niên xung phong cất tiếng hát “Chúng tôi đi mở đường trên lưng núi mờ sương…”, không gian huyền thoại khép lại để nhường chỗ cho đời sống Trường Sơn đầy sức trẻ. Giai điệu linh hoạt với nhiều bước nhảy quãng rộng, tiết tấu rộn ràng, những nét giai điệu ấy được lặp lại vừa gợi cảm giác gập ghềnh của núi rừng, vừa khắc họa tinh thần lạc quan của những cô gái tuổi mười tám, đôi mươi. Đó là cách Đỗ Hồng Quân đưa người nghe từ biểu tượng đến hiện thực hoàn toàn bằng ngôn ngữ âm nhạc, trước khi câu chuyện chính thức bắt đầu.

"Lá đỏ": khi tư duy opera kể câu chuyện Trường Sơn - 2

Opera "Lá đỏ"

Âm nhạc giữ vai trò dẫn dắt tác phẩm

Điểm đáng chú ý của Lá đỏ không chỉ nằm ở đề tài chiến tranh hay quy mô dàn dựng, mà trước hết ở tư duy tổ chức tác phẩm. Đỗ Hồng Quân không lựa chọn con đường dễ dàng là ghép các ca khúc nổi tiếng về Trường Sơn vào tác phẩm. Như thế sẽ thành một chương trình ca nhạc có cốt truyện. Ông cũng không biến câu chuyện Hang Tám Cô thành một bản trường ca sân khấu. Ông đã tiếp cận đề tài bằng chính ngôn ngữ của opera, nơi âm nhạc giữ vai trò dẫn dắt hành động, khắc họa tâm lý nhân vật và kiến tạo cấu trúc phát triển kịch bản.

Điều đó thể hiện ngay trong kết cấu tác phẩm với hai màn, sáu cảnh và phần vĩ thanh. Mỗi cảnh không tồn tại như một đơn vị độc lập mà được liên kết bằng các mô-típ âm nhạc, các đoạn chuyển tiếp của dàn nhạc và sự phát triển liên tục của các chất liệu âm nhạc, những tuyến giai điệu. Nhờ vậy, dòng chảy âm nhạc không bị ngắt quãng bởi đối thoại hay các tiết mục riêng lẻ, mà vận động thống nhất như một chỉnh thể. Đây là đặc trưng của opera, nơi dàn nhạc không chỉ đệm cho ca sĩ, mà trở thành một “nhân vật” cùng kể chuyện.

Trong cấu trúc ấy, ba tuyến nhân vật được xây dựng với chức năng rất rõ. Hương đại diện cho vẻ đẹp của tuổi trẻ Việt Nam trong chiến tranh giàu lý tưởng nhưng cũng rất đời thường, biết yêu, biết rung động trước hạnh phúc riêng. Sơn là hình ảnh người lính công binh mang tâm hồn nghệ sĩ, tạo nên mạch trữ tình giữa khói lửa chiến tranh. Còn Thần Núi đứng ngoài câu chuyện, vừa là người chứng kiến, vừa là người kết nối quá khứ với hiện tại, thực tại với huyền thoại. Ba tuyến nhân vật ấy tạo nên ba lớp không gian âm nhạc khác nhau: sử thi, trữ tình và huyền thoại, luôn đan xen, bổ sung cho nhau trong suốt tác phẩm.

Giao hưởng hóa ký ức Trường Sơn

Nếu chỉ dừng lại ở việc kể câu chuyện Hang Tám Cô bằng hình thức opera, Lá đỏ có lẽ đã không tạo được dấu ấn riêng trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Điều làm nên giá trị của tác phẩm nằm ở chỗ Đỗ Hồng Quân không tái hiện chiến tranh bằng ngôn ngữ minh họa, mà chuyển hóa ký ức Trường Sơn thành một chỉnh thể giao hưởng, nơi mỗi chủ đề âm nhạc, mỗi lớp hòa âm và mỗi màu sắc nhạc khí đều góp phần kể chuyện.

Trong suốt vở diễn, dàn nhạc giao hưởng không bao giờ giữ vai trò “đệm” cho giọng hát. Ngược lại, dàn nhạc là dòng chảy xuyên suốt, dẫn dắt tâm lý, tạo dựng không gian và chuẩn bị cảm xúc cho từng bước phát triển của kịch tính. Có những thời điểm, chỉ riêng tiếng kèn đồng và bộ dây cũng đủ gợi lên sự hùng vĩ của đại ngàn Trường Sơn; ở những đoạn khác, âm sắc nhạc khí bộ gỗ, bộ dây lại mở ra một không gian trữ tình, nơi tình yêu và nỗi nhớ được cất lên trước khi bom đạn ập tới. Chính cách tổ chức ấy khiến người nghe không chỉ theo dõi câu chuyện bằng lời ca, mà còn cảm nhận nó qua sự vận động của âm thanh.

Trong Lá đỏ, tác giả không sử dụng chất liệu dân gian như những “trích đoạn” được đưa nguyên vẹn vào tác phẩm. Những điệu hò, điệu ví, hay âm hưởng của các ca khúc quen thuộc về Trường Sơn được ông hấp thụ như chất liệu sáng tác, rồi phát triển trong opera. Vì thế, người nghe vẫn nhận ra hơi thở quen thuộc của âm nhạc Việt Nam, nhưng không có cảm giác đang nghe một chuỗi ca khúc được phối lại cho dàn nhạc giao hưởng. Chất liệu dân tộc đã được chuyển hóa thành một phần hữu cơ của cấu trúc âm nhạc.

Điều này cũng lý giải vì sao Lá đỏ tạo được sự gần gũi dù được viết theo kỹ thuật thanh nhạc bác học. Khán giả có thể không gọi tên được một thủ pháp sáng tác hay một mô-típ phát triển chủ đề, nhưng vẫn cảm nhận được âm nhạc ấy thuộc về ký ức văn hóa của mình. Đó là sự cộng hưởng giữa tư duy sáng tác hàn lâm với vốn âm nhạc đã được bồi đắp trong đời sống người Việt qua nhiều thế hệ.

Ở góc độ này, Lá đỏ gợi mở một hướng đi đáng suy nghĩ cho opera Việt Nam. Tiếp thu hình thức nghệ thuật bác học không đồng nghĩa với việc sao chép mô hình của châu Âu. Điều quan trọng hơn là làm chủ tư duy cấu trúc của opera để kể những câu chuyện của lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam bằng ngôn ngữ âm nhạc hiện đại. Đỗ Hồng Quân đã để chính tinh thần Việt Nam chi phối từ cấu trúc kịch, sự phát triển của chủ đề âm nhạc đến cách xây dựng hình tượng nhân vật.

Mười năm nhìn lại, Lá đỏ vẫn là một trong số rất ít vở opera Việt Nam có quy mô lớn được dàn dựng công phu, được biểu diễn nhiều lần và tạo được đời sống sau đêm công diễn đầu tiên. Giá trị của tác phẩm không chỉ nằm ở những giải thưởng hay số lượng buổi diễn, mà còn ở chỗ nó chứng minh rằng âm nhạc bác học hoàn toàn có thể đến gần công chúng khi người sáng tác tìm được tiếng nói chung giữa kỹ thuật hàn lâm và ký ức văn hóa dân tộc.

Nguyễn Quang Long

Tin liên quan

Tin mới nhất

Đưa quan hệ Việt Nam - Australia trở thành hình mẫu hợp tác về khoa học, công nghệ

Đưa quan hệ Việt Nam - Australia trở thành hình mẫu hợp tác về khoa học, công nghệ

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia, sáng 10/8 (giờ địa phương), Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam phối hợp với Trường Đại học Công nghệ Sydney (Australia) tổ chức Diễn đàn khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, đầu tư, giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam – Australia.

Hoàn thiện Luật Xuất bản để theo kịp sự phát triển của môi trường số

Hoàn thiện Luật Xuất bản để theo kịp sự phát triển của môi trường số

Sáng 9/8, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các đại biểu Quốc hội tập trung góp ý nhiều nội dung mới của dự thảo Luật Xuất bản, từ quản lý văn học mạng, xuất bản điện tử, lưu chiểu và hậu kiểm đến trách nhiệm của các nền tảng số, theo báo Nhân dân.