Chưa xa mà đã nhớ Lai Châu

Có những tọa độ núi sông nước Việt lạ thay, tôi chưa kịp bước rời, lòng đã dâng niềm luyến như là đã muộn màng. Dù tôi có lại qua bao nhiêu lần bao nhiêu lượt chăng nữa, vẫn chẳng thoát nỗi buồn lắng tê khoảnh khắc quay lưng lại miền đất số phận phải nợ.

1. Tôi phản ước lời với bản thân: Một khi chưa in dấu chân hết các địa danh đất nước, thì mỗi miền quê cùng lắm, chỉ nên trở lại đôi lần. Vậy mà với Lai Châu, tôi mang vết bọ chó chích sần tuổi trẻ, nơi món pạ gò ché ngon nghẹn trưa thu Thu Lũm, để ngợp đỗ quyên Putaleng, đắm sông Đà dầm mây trắng, cúi xuống em bé H’mong gùi củi chân đèo, thơm lâng bạch trà, hồng trà, chếnh rượu sâm thâu đêm lời gọi bạn, kiễng với trời xanh thảng thốt mở lòng suy ẩn của chính tôi. 

Chưa xa mà đã nhớ - Lai Châu! 

Chưa xa mà đã nhớ Lai Châu - 1

Một góc Lai Châu

2. Tháng 4 năm 2018, sau gần 40 năm cuộc chiến biên giới Việt - Trung, Hà Phạm Phú, Lại Đức Thành và tôi trở lại chiến trường xưa theo Quốc lộ 279 - tuyến đường chiến lược, khởi công vào tháng 2 năm 1979 nối các tỉnh Bắc Việt Nam từ Đông sang Tây khoảng 970 km. Quảng Ninh, nơi lộ trình bắt đầu, qua một số tỉnh và kết thúc ở Cửa khẩu quốc tế Tây Trang - tỉnh Điện Biên. 

Tập kết ở Điện Biên Phủ, chúng tôi khởi hành từ Tây sang Đông.

Theo Quốc lộ 279, vượt đèo Tằng Quái đến Tuần Giáo, bỏ Quốc lộ 6, chúng tôi ngoặt Quỳnh Nhai, vượt cầu Pá Uôn, cây cầu trụ cao nhất Việt Nam bắc qua sông Đà. Tuyến 279 vượt tiếp đèo Khau Co để tiến vào Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Đến Than Uyên chuyển sang Quốc lộ 32 chạy ngược lên phía Bắc qua Tân Uyên chạm ngã ba Bình Lư. Từ Bình Lư, rẽ Quốc lộ 4D tua thêm nữa mới tới thành phố Lai Châu - vùng lõi nông trường chè Tam Đường xưa. 

Thường thì theo Quốc lộ 12, dọc sông Nậm Na, qua Mường Lay chỉ 180 km và 5 tiếng. Vượt 300 km ai cũng nghĩ khoảng 10 tiếng là dư chinh phục, nhưng chúng tôi đã tốn 18 giờ. Quả thực lộ trình 279 không phải là con đường mơ từ Điện Biên đến Lai Châu. Bù lại chúng tôi được sống trong thử thách hiểm nguy mỗi khoảnh khắc ngắm sóng Đà giang rạng dấu sử son và các đèo mây lên xuống nghẹt thở vách đứng đá dựng những triệu năm tạo sơn.

3. Dừng giữa gió đèo Giang Ma, phía lũng xa ánh đèn Lai Châu đã nháy chào muôn con mắt thức, nửa như đợi nửa như sắp biệt chúng tôi. Rời thung lũng Điện Biên lúc 6 giờ sáng mờ sương, gã bạn Trần Thành - Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Điện Biên, theo “ủy nhiệm” của Hà Phạm Phú đã phiền đồng nghiệp phía Lai Châu đặt giúp chỗ nghỉ và bữa tối.

Bởi kinh phí các Hội Văn nghệ địa phương chẳng khác chiếc bánh đa nem đã rách lại ẩm sũng vo véo cách gì cũng chẳng đủ phết dán lên các bề mặt hoạt động. Tự cảm nên Lại Đức Thành cẩn thận nhấn nhắc, đoàn “về nguồn” chủ động mọi nhẽ, chỉ dám phiền “chủ nhà” Lai Châu một vài cú điện thoại. 

Ngợp oải một ngày đèo núi, lái xe dờ dẫm trong thành phố lạ, hồ nước lênh loang hắt sáng lên vòm trời nhung thẫm, một quảng trường rộng như sân bay kết mở với những hợp khối đường nét thẳng, mạnh, tinh giản, ấn tượng tập trung, chuyên nghiệp và bề thế. Các tone màu nhã, hài hòa với tự nhiên chiếm lĩnh mặt đứng, kết hợp kính mang lại cảm giác thông suốt, tường minh. Các trục đường thênh vươn, giao lộ góc phố rộng xòe, những hàng cây ban trắng, ban hồng, sao đen, liễu, muồng hoàng yến, phong hương, anh đào sắp hàng theo chủng loại đã ấm cành tỏa ngọn gió rung xạc xào bóng tối. 

Ríu ran điện thoại của Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Lai Châu - Thạc sĩ Nhật ngữ Nguyễn Thị Thanh Vân, giọng như sinh viên hướng dẫn đoàn đến vị trí trên đường Thanh Niên. Chị Thanh Vân mới kế nhiệm đồng nghiệp của chúng tôi - nhà thơ Đỗ Thị Tấc đa tài đã thơ hay lại là nhà tổ chức sưu tầm văn hóa văn nghệ dân gian nổi tiếng, vừa nghỉ hưu, đang cặm cụi dựng bảo tàng không gian Văn hóa Thái dưới Than Uyên.

Với riêng, tôi biết “anh Tấc” mấy chục năm lẻ trong âm hưởng đách giòn tiếng nõ điếu thuốc lào, khói vờn nét mặt thanh, tóc mai xòa điểm sương, chẳng thiếu “hệ lụy” buồn vui có thể kể. Nhưng tôi xác quyết: Đỗ Thị Tấc là một trong những gương văn nghệ đã dựng dưỡng diện mạo cho văn nghệ Lai Châu hôm nay.

Chưa xa mà đã nhớ Lai Châu - 2

Trên đỉnh Putaleng

Cách mấy trăm vòng bánh xe, đã thấy tên “Biên Cương” nền vàng đèn led trên nóc tòa nhà hai tầng phía trước. Trờ tới trong sắc quang giả lập ban ngày của đèn đường hắt sáng nơi hai thiếu phụ đứng bên bậc thềm nhà hàng cửa kính, sơn hồng phấn, mặt tiền dài thượt. Không khí mát lành như giấc đêm thu trung châu, chừng 20 độ lẻ.

Bữa tối lúc 10 giờ ngỡ chẳng thể nuốt, nhưng món nào cũng hợp, cũng ngon vị, vừa miệng.

Câu chuyện buột cởi khi biết Lại Đức Thành mới ba năm đây thôi đã cùng tổ chức plan trong lĩnh vực nhân đạo và phát triển cộng đồng có công việc tại Tam Đường. Còn Hà Phạm Phú và tôi trong phần đời quân ngũ xưa mấy mươi năm, kẻ trước, người sau đã trầy vảy thực tế mò vào tận Mường Tè, Thu Lũm. Đến Mường Tè ngày đó “tốn” cả tuần, bậm bạch xe tải, đi bộ băng rừng, ngồi mảng đường sông kết hợp. Từ Tam Đường qua thị trấn Phong Thổ cũ, khu vực quanh sông Nậm Na để ra đến ngã ba Pa Tần. Nếu may mắn, người đi có thể bám nhờ quân sự, xe kéo của thanh niên xung phong hoặc nhảy lên chuyến xe ca liên tỉnh Hải Âu hoặc Ba Đình bất chợt.

Tuyến Pa Tần đi biên giới Mường Tè - theo Tỉnh lộ 127 bây giờ, thực là một thử thách quá ngưỡng với tôi, nếu không có sức trẻ và niềm tin tận hiến, chấp nhận may rủi thì khó thể vượt qua. Những cung đoạn ô tô không thể di chuyển bình thường do sạt lở đứt đường, sập cầu gỗ xảy bày như cơm bữa. Cán bộ, bộ đội hay dân thổ địa, đều xé vé bằng nhau là đi bộ rã ròng. Hành lý, nhu yếu phẩm tự mang vác trên vai hoặc thồ bằng xe đạp khung sắt gia cố. Qua các khúc dữ thượng nguồn sông Đà, dây mây buộc ngang người liền bè mảng ghép tre, nứa hoặc thuyền đuôi én của người Thái, người Hà Nhì để trung chuyển khách và hàng. Non 200km nhưng đôi khi mất 3 hoặc 5 ngày, thậm đến cả tuần nếu mưa bão sạt núi, trượt đồi, cô lập.

Tôi và đồng nghiệp đeo lương khô, gạo, muối, thuốc chống sốt rét và bật lửa. Con đường đất luồn rừng cây nối tiếp rừng cây, xa xa lưng núi, chân đồi vài sợi khói từ mái cỏ tường trình dấy lên hy vọng bát cơm nguội độn củ rừng và nhúm dưa khô xào ớt của cụ bà Hà Nhì. Và tùy hứng ngủ trong các lán thanh niên xung phong bỏ hoang, hay căng tăng, mắc võng tạm ven đường. Giữa đêm co mình trên võng lạnh nhờn, tôi sờ lên cổ, lần trong cơ thể lôi ra vài con vắt căng tròn. Nếu may sẽ ghé được vào nhà dân sặc sụa khói và tối như hang, lại gặp nạn bọ chó luồn lách vào mọi vị trí thầm kín mà chích đốt. Một vết nọc ấy nơi bắp chân bị nhiễm trùng, sau gần nửa thế kỷ khi trở trời tôi vẫn bị nhức ngứa râm ran…. 

Buổi ban đầu đã thế với Lai Châu, chừng chục ngày sau, tôi tơi tả trở ra Tam Đường vạ vật chờ “bắt” xe khách xuống Bình Lư tìm cách vượt đèo sang Sapa vật vờ như con cá mương sấy khô. Quốc lộ 4D rải đá cấp phối, lòng đường hẹp xiu, mùa mưa sạt lở xoành xoạch, trơn trượt lầy lội rình từng bước hay căng tăng chân. Ngày hè nắng sẹm da, xe tải nông trường phậm phạch hay xe khách thảng hoặc chạy qua kéo quẩn bụi bay mù mịt như lốc cát, màu đỏ đất bám dầy trên bờ rào cây găng, cây cúc tần dọc lối đi. Đông tới, sương mù đặc quánh từ Hoàng Liên Sơn tràn xuống, che phủ mọi tầm nhìn.

Dọc Quốc lộ cắt qua thị trấn nông trường là nương chè, đồi chè san sát, cây thành hàng lối, ôm trọn các cung đường quanh co uốn lượn bám sườn đồi. Những lối mòn xương cá đất mịn rẽ vào các đội sản xuất chỉ vừa một người đi bộ hoặc loằng ngoằng xe đạp. Sáng sớm, chiều muộn, rộn bước công nhân mang gùi, đội nón lá ra đồi hái chè. Chốc chốc bụi tung trên đường, ấy là những chiếc xe ben, xe tải xộc xệch chở đầy sọt chè tươi hướng về nhà máy chế biến, bên lề đường cỏ mấy chú nhóc Hmongz dong trâu, lùa bò thong thả đi bên… 

 Sững dưới trời xanh nhà máy chế biến chè, một khối nhà dài hai tầng, bộ khung chịu lực bê tông cốt thép, tường xây gạch dày cách nhiệt. Mái lợp tôn kẽm lẫn tấm lợp fibro-xi-măng. Hai bên hông nhà xưởng là các dãy cửa sổ bằng khung thép hoặc gỗ chớp cao sát trần đón gió tự nhiên, như muôn con mắt khổng lồ ngước thiên không nhưng giúp thoát hơi ẩm và nhiệt độ tỏa ra từ các lò sấy chè thơm thơm chát chát.

4. Hơn 11 giờ đêm, gần kết bữa, nách kẹp ví cầm tay, Lại Đức Thành ý tứ đứng dậy thanh toán thì nhà hàng cho hay đã có người xé bill. Chưa biết giãi bày sao, thì Thanh Vân trao mỗi chúng tôi một túi quà, trà Kim Tuyên và các ấn phẩm của Hội Văn nghệ và có lời. Chẳng mấy khi các anh lên Lai Châu. Muốn đi thực tế bất cứ đâu trong tỉnh anh em trong Hội sẽ trợ giúp. Sìn Hồ. Sin Suối Hồ. Sì Thâu Chải. Đồi chè Tân Uyên. Than Uyên với vịnh Pá Khôm như một "vịnh Hạ Long thu nhỏ" giữa lòng hồ thủy điện Bản Chát. Thăm rừng trà cổ thụ hay suối khoáng nóng. Đi cửa khẩu Ma Lù Thàng. Hay trải nghiệm leo các đỉnh núi mây ngàn như Bạch Mộc Lương Tử và Pu Ta Leng.

Rủm rỉm, Hà Phạm Phú đùa rằng ngày mai chủ nhật có phải xin phép ông xã không thì Nguyễn Thị Thanh Vân tự tin bảo mình là single mother như Đỗ Thị Tấc. Cả hai đều giữ chức Chủ tịch Hội Văn nghệ. Một câu chuyện hiếm ưu trội về công tác cán bộ - đặc biệt là với cán bộ nữ, ở Lai Châu ghi một điểm sáng. Nghĩ lui, nếu hai chị công tác ở ngoài Lai Châu, chắc khó có thể được ghi nhận đúng về năng lực. Dù điều đó đã ghi nhận trong nền tảng hiến pháp, luật và nghị định. 

Chẳng ngờ, nhờ món quà sách chúng tôi mới thêm lí do trở lại Lai Châu sau một năm, tháng 6 năm 2019, không phải là khách mà để tôn vinh, lan tỏa giá trị sống của một tấm gương, một câu chuyện Lai Châu đã vượt đèo Ô Quy Hồ kết nối với cả đất nước: Hà Mạnh Phong.

Đêm khách sạn vị trà Kim Tuyên thao thức, tôi lật mở chồng sách. Điểm từng cuốn vài trang dòng. Ngoài Đỗ Thị Tấc, “anh” bạn quen suồng và nổi tiếng. Những cái tên ấn tượng như Huỳnh Nguyên - một người con xứ Huế gắn bó với Lai Châu từ kháng chiến chống Pháp. Cụ Tẩn Kim Phu - nhà nghiên cứu văn hóa Dao thâm hậu, và chị Bùi Thị Sơn - một cây bút kiên trì… thì tôi nhận ra một gương mặt văn nghệ biệt sắc, nổi trội của vùng đất: Hà Mạnh Phong - Các tác phẩm của Phong dù tản văn hay khảo cứu về văn hóa Thái đều thể hiện tình yêu vô bờ với mảnh đất đã sinh ra mình, bằng một thứ văn phong lịch lãm, ngôn từ sáng tạo, đẹp. Tôi dự kết nối với Hà Mạnh Phong vào hôm sau, nhưng không kịp, khi vừa rạng thì Hội Văn nghệ đã cử kế toán Nguyễn Thị Liên mời chúng tôi lên Tam Đường Tea ngắm thành phố và thưởng trà.

 Yên vị Việt Trì đọc lại Phong, tôi quyết định gọi cô kế toán mặn mà. Giọng Liên trầm xuống, tôi được biết Hà Mạnh Phong có bố là cán bộ kháng chiến quê Đoan Hùng - Phú Thọ và mẹ là cán bộ dân tộc Thái, sinh năm 1967, Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Lai Châu. Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Hà Mạnh Phong tốt nghiệp kỹ sư vô tuyến, về quê hương công tác, từng giữ điện đài phục vụ đoàn chuyên gia Tiệp Khắc nghiên cứu về đất hiếm, sau chuyển sang Bưu điện một thời gian ngắn thì mắc chứng bệnh liệt cơ không hoàn toàn. Hai cánh tay Phong vẫn sử dụng bàn phím khá ổn. 

Tôi kết nối với Hà Mạnh Phong. Qua chuyện hằng ngày, tường minh về số phận anh và đặc biệt về người mẹ, người cha và đứa em gái cũng như họ hàng bên ngoại đã sánh vai cùng anh bao nhiêu năm điều trị đủ cấp bệnh viện. Họ đã bất lực chứng anh như một chồi ban non dần héo. Nhưng Phong đã không nản, với chuyên môn về công nghệ thông tin, sẵn năng khiếu văn chương và tình yêu Lai Châu. Anh khẳng định bản thân ở một lĩnh vực phải tự mình đào tạo: trở thành nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian với gần chục đầu sách sáng tác, khảo cứu, cùng các giải thưởng danh giá của các cơ quan chuyên ngành.

Linh cảm thời gian của Phong còn nhiều, tôi nảy ý khuyên Phong hãy viết câu chuyện của mình. Câu chuyện hẳn sẽ nêu một tấm gương vượt qua số phận, sống đẹp, sống có ý nghĩa. Thích gì Phong cứ viết nấy. Miễn là kể những gì nhớ được đã trải từ bé đến giờ. Bản thảo xong, sạch mới gửi để tôi đọc xem, may ra có thể trợ giúp nhau. Vì tôi cũng chẳng xuất sắc gì mà mong giúp được nhiều, ngoài cái gọi là kỹ năng biên tập với phương châm là tôn trọng tối đa những máu thịt của tác giả. Cắt, gọt, cúp, tỉa càng hạn chế càng tốt. Câu chuyện tưởng chỉ dừng lại thế, thi thoảng nhắn tin vu vơ. Một năm sau tôi nhận cuộc gọi, Hà Mạnh Phong báo bản thảo đã xong lần một. 

Mở email gửi từ hamanhphong2005@gmail.com lúc 19:42 8 thg 5, 2019 tôi đọc:

Anh Thiện Kế quý mến! 

Em gửi anh bản thảo tự truyện, nhờ anh dành thời gian đọc và góp ý để em chỉnh sửa. 

Nếu anh đọc thấy dở quá thì khuyên em bỏ đi cũng được anh ạ! 

Khi viết, thỉnh thoảng em có chú thích để người đọc hiểu rõ hơn. Anh xem như thế có cần thiết không? Nếu không cần thiết thì khi sửa em sẽ bỏ nó đi.

Cám ơn anh đã động viên em viết!

Em Phong.

Tập bản thảo MONG MANH NHƯ SƯƠNG, 150 trang khổ A4. Đọc trên máy, ngay từ trang đầu tôi đã không dừng được. Từng sự kiện, từng khúc quanh, tất cả ngay ngắn, trong ngần cảm xúc và lạc quan sống dù đau thương. Với chất lượng bản thảo, không cần một bảo chứng, Phong cứ gửi thẳng đến bất cứ nhà xuất bản bản nào trong nước cũng sẽ được đón nhận. Nhưng tôi nghĩ cuốn sách của Phong, cuộc đời của Phong hàm chứa bao nhiêu năng lượng tích cực cần phải được các bạn trẻ biết đến một cách bình thường nhất giữa đời sống. Chợt nhớ đến tủ sách CÂU CHUYỆN ĐỜI TÔI do nhà văn Đặng Vương Hưng sáng khởi, Nhà xuất bản Công an nhân dân duy trì hàng chục đầu sách với lượng phát hành vài ngàn bản.

Bản thảo MONG MANH NHƯ SƯƠNG tôi điều chỉnh vài lỗi diễn đạt, câu chữ, thứ tự chương đoạn, và đề nghị Phong suy kiếm một title đậm chất Lai Châu hơn. Hai anh em bàn quẩn hơn tuần rồi tôi cũng đưa ra phương án: HOA VẪN NỞ TRÊN PUTALENG.

  Một lần nữa trở lại Lai Châu - “Vượt qua dãy Hoàng Liên” bằng chuyến xe Ford Transit không chỉ có Hà Phạm Phú, Lại Đức Thành, tôi, mà thêm Đặng Vương Hưng, người chịu trách nhiệm đưa HOA VẪN NỞ TRÊN PUTALENG tức thì vào kế hoạch xuất bản, thực hiện truyền thông phát hành của Nhà xuất bản Công an nhân dân và Trần Trọng Thượng, họa sĩ vẽ bìa cho tập sách. Kinh phí chuyến đi được Lại Đức Thành tài trợ. 

Xe dừng trước căn nhà nhìn ra khoảng sân thể thao khu phố, tôi nhận ra Phong - tóc cắt ngắn, ngồi trên xe lăn, hai bàn tay run rẩy hai bên tay nắm, gương mặt phúc hậu, đôi mắt sáng khác thường ngóng ra. Liền đó, chiếc bàn làm việc với computer màn hình lớn và bàn phím nhiều hỗ trợ. Một không khí căng căng nhưng thân thiện, ai cũng sẽ sàng tìm những uyển ngữ chuyển tải được nhiều thông điệp nhất.

Kiêu hãnh nhưng nhún nhường, Hà Mạnh Phong đặt câu hỏi:

- Giúp em thế này, cách anh có phải chiếu cố cho em lắm không?

Chúng tôi nhìn nhau, rồi Hà Phạm Phú điềm tĩnh:

- Trong chuyên môn với chúng tôi, ai cũng như ai. Bản thân văn chương nghệ thuật không cần chiếu cố. Nếu như phải sử dụng đến điều ấy thì ý nghĩa của văn chương đã bị chuyển hóa mất rồi. Nhưng về mặt con người, chúng tôi nghĩ rằng ai cũng cần đến một sự chia sẻ về thể chất cũng như tinh thần ở thời quãng nào đó, ngay cả với người khỏe mạnh bình thường…

 Nhận được nụ cười rạng của Hà Mạnh Phong, chúng tôi yên lòng làm việc với Hội Văn nghệ Lai Châu về cuốn sách…

5. Bây giờ từ trung tâm tỉnh Lai Châu đi Mường Tè chỉ còn 5 tiếng xe sedan. Hồ thủy điện tích nước, tuyến đường cũ men sông Đà, sông Nậm Na đã chìm lút đáy hồ. Quốc lộ 12 và tuyến Tỉnh lộ 12, đoạn nối từ ngã ba Lê Lợi, Nậm Nhùn - Mường Tè mở rộng, bạt núi san nền cao hơn mực nước hồ, nắn gần hết cua tay áo, thảm nhựa láng mướt, xoa tay lái sedan hay vần xe khách giường nằm đều thong dong êm ru.

Lần hồi cố Thu Lũm mới đây, theo đường tuần tra song hành với dòng sông phía dưới bao quanh đến chân núi Con Rùa, tôi mới thấy hết những chỉ dấu thiêng liêng núi sông nước Việt ẩn tàng, mà những tháng năm tuổi trẻ thấm chưa đủ ngộ hết nhẽ chiều kích. Lọ mọ thêm 40 cây số cũng chẳng là gì với những dâng trào trong huyết quản cảm xúc công dân. Tôi đã chứng trước những người già Hà Nhì như khúc gỗ lũa, những cặp vợ chồng son ngơ ngác, nhà sát đường biên, hết gạo, cạn muối, gia sản dẫu còn 50 ngàn họ sẽ dành mua cờ giữ cho Tổ Quốc tươi sắc đỏ và ảnh Bác Hồ sáng rỡ.

Trên không ảnh, nếu như mũi Cà Mau như “ngón chân cái” chưa khô bùn vạn dặm, nơi cực Nam lầm lũi lấn biển, thì phía cực Tây Bắc núi Con Rùa bề thế với cổ  mập và đầu vươn thẳng kiêu dũng hướng về ngã ba sông biên giới trấn yểm - thế Huyền Vũ Sơn - dùng sự trường tồn, kiên định của rùa thần để thuần hóa, trấn giữ thế nước hung hãn từ thượng nguồn đổ về và một trong những thế núi đại cát, mang lại năng lượng tích cực, phong nhiêu, biểu thị cho sự khai sáng, tư duy sắc sảo, ý chí vươn lên và công danh hiển hách cho xứ sở.

Theo từng bậc xây, tôi chậm xuống mép nước vẩn phù du, khỏa tay ướt đẫm, cóng lạnh dù ban ngày mùa hè rồi mới đặt tay ôm cột mốc 18(2) ngước nhìn lên núi Con Rùa khoảng 600m về hướng Bắc, nơi bản Mé Gióng, xã Thu Lũm, bỗng rưng dâng huyết quản trào nguồn năng lượng mới. Hiểm trở, hùng vĩ, núi Con Rùa xanh phổng tán rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà, hội vị trí chiến lược, giá trị lịch sử, cảnh quan và chủ quyền biên giới quốc gia. Tuổi hai mươi tôi yêu đất nước, yêu biên cương bằng bản năng thừa truyền của dân tộc, nhưng đến 60, bản năng ấy đã thành phản xạ có điều kiện nên tình yêu ấy trở thành bất biến.

Núi Con Rùa kết nối các vị trí ba cột mốc chủ quyền cùng con số 18: 18(1) nằm bên lãnh thổ Trung Quốc, 18(2) thuộc bản Mé Gióng và 18(3) thuộc bản Mò Su xã Mù Cả, khu vực hợp lưu khi dòng xanh dòng đỏ phù sa gặp nhau tùy mùa của sông biên giới Nậm Là với sông Đà, với điểm cao 721 phóng tầm mắt bao quát khung cảnh biên giới rộng lớn và khu vực mốc giới 18, độ cao so với mực nước biển chừng 351,30m, cách cầu Kẻng Mỏ xấp xỉ 460m, cách trạm kiểm soát biên phòng Kẻng Mỏ khoảng 160m.

Trí tưởng bỗng phấp phới ngôi sao vàng, tôi đã đến cột cờ biên giới Lũng Cú - Tuyên Quang - điểm cực Bắc, cột cờ A Pa Chải - Điện Biên - điểm cực Tây, cột cờ Lũng Pô - Lào Cai - nơi con sông Hồng chảy vào Đất Việt, cột cờ Mũi Sa Vĩ - Quảng Ninh - địa đầu Đông Bắc. Và nếu một ngày trên đỉnh núi Con Rùa cột cờ thứ 5 hiện diện ở nơi sông Đà xuôi dòng nhập Việt - Lai Châu thì đó là giấc mơ ái quốc của tôi được hoàn nguyên bởi con số 5. Tôi đang hình dung đến ngày đó…

Thêm nữa, chúng ta đem phiên bản cột cờ Hà Nội vào mũi Cà Mau để khẳng nhấn vai trò là cột mốc chủ quyền thiêng liêng tại điểm cực Nam trên đất liền của Tổ quốc. Và làm sao đếm cả trăm triệu cột cờ dựng trong lòng mỗi con dân Việt…

Đã mấy lần tôi cháy họng, nấc cụt, trào nước mắt cay trái ớt như con tằm lá sắn mang tên gọi trung đoàn trên đất Thu Lũm vẫn mon men chấm đũa. Sâm Mường Tè cũng là sâm Lai Châu, củ thường hình con quay hoặc thon dài, bề mặt thắt đốt với mấu thân củ nhiều vết sọc nhăn, ruột đặc xanh đen hoặc xám đen, chạm hé lưỡi đã đắng ngắt nhưng ngậm lâu lại hóa vị ngọt thanh, dược lực dịu hơn, dễ uống nên rất thích hợp để duy trì sức khỏe hằng ngày... 

Kết gắn với Mường Tè, tôi ngẫm ra - Lai Châu là một trong những vùng hợp dung nhiều phong cách ẩm thực đặc sắc hơn bao giờ. Đó là cách ăn ánh xạ đời sống sắc tộc và chỉ dấu địa lý. Ví như người Hà Nhì Mường Tè chỉ săn cá lăng chấm, cá chiên, chép vài ba kí đến một yến dưới sông Đà, nấu măng chua thuần vị, và nướng ướp hạt dổi, mack khén. Và các con vật to lớn như canh bì trâu nấu bột và nõn khoai nước dại, nộm chua cay bì trâu, đến món không đếm được sự mướt mát là canh rêu bám đá suối nguồn… 

Bừng ngon vị cơm gạo nương hạt cơm tròn, thơm ngọt riêng, dẻo ngậy, như xôi nếp nhưng ăn không hề bị ngán của Mường Tè, tôi sực nhớ Than Uyên cơm gạo Séng Cù bùi béo, Tân Uyên nức cơm gạo Khẩu Hốc, cơm gạo Tan Pỏm bâng khuâng quanh Tam Đường, Phong Thổ vấn vương cơm gạo tẻ râu mà dẻo dính. Phụ họa vào cơm nương, món cá lăng chấm ngạnh sắc tươi núng nấu mộc măng chua. Vị măng chua giúp cân bằng độ béo ngậy vốn của cá lăng. Hoặc giao thoa nghệ thuật ẩm thực bằng cách nhúng lẩu: Đầu, đuôi và xương cá hầm lấy nước. Phần thịt cá cắt khúc, chần sơ. Lên nước dùng, nấu chung với măng chua, thêm sợi bắp chuối rừng, rau dại, và hành lá. Hoặc cá lăng ướp muối hạt cùng hỗn hợp riềng mẻ cùng chút mỡ lợn để cá mềm mượt miếng cắn, nướng trên than củi gỗ dổi đến khi da cá vàng giòn chấm muối giã ớt trung đoàn, giữ nguyên độ dẻo, dai và mùi thơm của da cá... Mật ong từ những vách đá, cây cổ thụ rừng nguyên sinh phổ màu từ vàng nhạt đến vàng cam, vị ngọt thanh đậm quyến, thơm nức ngát hoa rừng Thu Lũm.

Và một biệt tửu của người Hà Nhì, đó là thứ rượu cất từ gạo nương ủ men lá với khoảng 30 vị thảo dược, tôi có thể sơ kể: Rễ cây ba mươi giúp rượu êm nồng, cây rễ đen tạo vị cay, lá trầu rừng, gừng rừng, quế rừng, nhân trần, và các vị thuốc Nam có tính nóng tốt cho xương khớp. Những vị thuốc làm men chính là chất kháng khuẩn tự nhiên, giúp rượu giữ thơm lâu, không chua vị và giải độc tố, uống vào an lành cơ thể. Men ấy, gạo ấy kết với nguồn nước suối tinh khiết, làm nước pha, được nấu củi đã tạo ra thức rượu nếp nương nồng độ cao có thể phối lẫn xăng chạy xe máy, lại được đem ngâm với sâu chít “phát kiến” của người Thái vốn được ví như "đông trùng hạ thảo" của Tây Bắc để dung dưỡng sức mạnh cánh mày râu. 

Thơ thẩn qua Phong Thổ vào cữ bữa chiều, đây đó nóc nhà trên nóc nhà dưới khói bếp lừng hương gia vị thức món. Với các món Thái Lai Châu mọi sắc tộc đều tìm thấy khoái cảm ăn uống, bởi người phụ nữ váy xỉn và áo cóm hơn ai hết biết kết hợp mọi loại gia vị từ chanh, củ sả, củ kiệu, húng dổi, húng tía, cà dại, núc nắc và dằng dặc các loại rau rừng… cùng các loại côn trùng trứng kiến, sâu chít, bọ xít, sâu đá, ve sầu, cá bống... thịt trâu, thịt lợn, hay dê, gà trong hệ chủ vị tẩm ướp dùng muối hạt, hạt tiêu, máck khén, thảo quả, hạt dổi… Chính phong cách hợp dung gia vị, hương liệu tự nhiên cả xuôi lẫn ngược của người Thái đã khiển được khẩu vị của mọi kẻ khó tính, sành ăn luôn mơ tưởng đến lúc trống dạ.

Đến Phong Thổ nếu gặp may, bạn có thể thưởng món dân gian, như sâu tre, sâu chít rang giòn với lá chanh. Thêm nữa còn món trứng kiến của rừng phòng hộ giàu protein đồ xôi nếp nương ngũ sắc ngậy như mỡ gà trống thiến mà không ngấy. Ngỡ bình dân, mà đã chẳng bình dân.

 Sin Suối Hồ vùng lạnh, nơi cây thảo quả sinh trưởng dồi dào dưới sắc hoa phong lan “giấc mộng của vua Trần” trong rừng nguyên sinh, nên người H'mông biết thực dưỡng nương theo điều mẹ tự nhiên ưu đãi. Đó văn hóa ẩm thực lấy thảo quả làm chủ đạo. Loại quả mọc chùm từ dưới gốc cây bụi họ gừng được ví như "nữ hoàng của các loại gia vị" nhờ hương thơm nồng, vị cay, tính ấm. Với vai trò dược liệu, thảo quả mang lại lợi ích vượt trội cho cả ẩm thực, y học cổ truyền và y học hiện đại. Riêng ở Sin Suối Hồ người phụ nữ Hmongz đã khéo chế biến đa món cho người đàn ông của gia đình hùng hục nương rẫy nhưng vẫn hào hoa trong buồng ngủ. Bạn sẽ đừng lạ nhé, nếu ghé một gia đình Hmongz được mời nước thảo quả mật ong đựng trong ống tre một cách long trọng. Tới bữa sẽ thêm món mầm thảo quả xào thịt treo, thảo quả tươi giã làm nước chấm, ướp thịt lợn ba chỉ nướng, lá tiêu rừng nấu canh, ăn sống… 

Sìn Hồ của mây trắng, giá lạnh và đất cao nguyên phì nhiêu, tương thích với các loại rau họ cải. Địa hạt của ẩm thực Dao song hành với gừng. Cũng như thảo quả, gừng vừa là thuốc tham gia vào nghệ thuật ẩm thực. Nhờ hoạt chất gingerol, gừng vừa là một loại gia vị không thể thiếu trong căn bếp, vừa là vị thuốc quý thường hằng cho sức khỏe. Người Dao Sìn Hồ tín nhiệm gừng với mọi món để chống lại cái lạnh như rau cải nấu canh với gừng, trứng nấu gừng bổ dưỡng cho phụ nữ sau sinh cũng là thứ thuốc giải cảm lạnh, trứng rán gừng, canh gà nấu gừng. Sìn Hồ nổi tiếng với cải mèo, cải ngồng, đỗ ngô là loại đỗ bản địa trồng xen trên nương ngô, ngọn và quả đậu Hà Lan. Rau cải mèo, đương nhiên danh tiếng là đặc sản của Tây Bắc nói chung và Sìn Hồ biệt hữu. Cải mèo Sìn Hồ vị đậm ngọt, xen chút đắng nhẹ, luộc xào hoặc nấu canh gừng. Rồi cải làn Sìn Hồ nữa mang vị bùi, giòn, ngọt sần sật, luôn được các thương nhân gom vét, gửi miếng ngon Sìn Hồ theo các chuyến xe liên vận đến các miền xa chút hương hoa cao nguyên, lạ vị tấu một tiếng khen vui trong bữa cơm gia đình.

6. Lần này tôi trở lại, tháng 6 năm 2026. Lai Châu - thành phố đã chia phường, vắng Hà Phạm Phú, Lại Đức Thành nhưng thêm nhà thơ Lê Va - nguyên là Đại tá an ninh và Đoàn Hữu Nam - một nhà văn khởi từ công nhân giao thông thuần chất Tây Bắc. Tựu chung vẫn việc văn chương, nhưng tầm vóc và quy mô khu vực Tây Bắc của tỉnh Lai Châu, tôi sẽ kể khi có thể và khi gặp dịp. 

Ngoài hàn huyên te tua với Đỗ Thị Tấc, seminar sáng tác với các cháu năng khiếu cùng Ban lãnh đạo Hội và đội ngũ biên tập tạp chí, tôi may biết một nhân vật chung sở thích: Mê hồng trà và các loại trà cụ. Anh là một trong những cán bộ chủ chốt của Lai Châu, vừa hoàn thành chuyến đối ngoại với tỉnh Vân Nam trở về. Bên bộ đồ trà tử sa mới được khai ấm, câu chuyện trà Lai Châu khiến ánh mắt anh lánh vui và say như nói về một người tình. Cũng đỡ quê, bởi trước tôi đã được người thân gửi phong hồng trà shan Mồ Sì San nhưng vẫn cứ phải dỏng nghe không sót lời anh, trong khi không rời ngắm bàn tay thư sinh, tinh tế thao tác tráng ấm chén, đánh thức trà rồi hãm trà. Rót tiếp nước nóng từ 85°C - 90°C vào đầy ấm. Đậy nắp lại. Dường như thời gian chỉ từ 10 đến 20 giây cho tuần trà đầu tiên. Hồng trà cổ thụ có tốc độ tiết vị rất nhanh. Anh rót hết toàn bộ nước trà từ trong ấm ra chén tống rồi chia đều trà ra các chén nhỏ. Cười tươi. Mời…

Thứ danh trà nõn búp đúng chuẩn phải canh đủ "một tôm hai lá" hoặc một tôm một lá đối với Bạch trà, hái trước khi bình minh lên. Búp trà cổ thụ Lai Châu vốn có lớp lông trắng tuyết mọc dày để kháng cự cái lạnh. Trà hái về không đem sao ngay mà được rải đều ra nong nia thoáng mát để bay bớt hơi nước vốn có. Mục đích làm cho cánh trà mềm dẻo, giảm độ tanin gắt chát và đánh thức hương thơm chân mộc tự nhiên hoang dã của đại ngàn. Khi búp hong đủ độ dẻo mềm, nghệ nhân dùng lực hai bàn tay vò trà, vật trà khéo léo trên nong nia, chú ý chỉ cần dập nhẹ gân lá để tinh dầu tiết ra bề mặt nhưng không được làm nát búp, giúp cánh trà xoắn chặt lại và giữ nguyên được lớp lông tuyết trắng. Các chất catechin trong nhựa trà tiếp xúc trực tiếp với oxy ngoài không khí, kích hoạt enzym tự nhiên để bắt đầu quá trình oxy hóa hoàn toàn.

Khâu ủ men theo bí quyết độc đáo của người Dao và người H'mông Lai Châu, hay còn gọi là quá trình oxy hóa là bước quan trọng nhất mang tính quyết định để biến những búp trà cổ thụ shan tuyết xanh tươi, chát dịu của vùng núi cao thành những sợi trà mang màu đỏ hổ phách, mang hương mật ong hoang dã và trái chín thơm nồng. Vò xong, trà sẽ được gom lại và rải đều lên các mẹt tre lớn hoặc khay đan chuyên dụng. Độ dày của lớp trà dao động từ 4cm đến 6cm. Nếu lỡ tay rải quá dày, trà sẽ bị bí hơi và chuyển sang mùi chua, nếu quá mỏng, nhiệt độ tích tụ không đủ khiến quá trình lên men bị chậm hoặc không đều. Một bí quyết các nghệ nhân thường phủ một tấm khăn vải cotton sạch, ẩm lên các mẹt trà để duy trì độ ẩm ổn định, ngăn chặn cánh trà bị khô se lại khi chưa kịp lên men. Và một bí quyết nằm lòng cần phải kiểm soát, chi phối: Nhiệt độ - Độ ẩm - Thời gian, đó là những điểm lõi của nghệ thuật ủ trà. Với nhiệt độ giữ tối ưu từ 24°C đến 28°C. Khí hậu mát mẻ tự nhiên quanh năm của vùng núi cao Lai Châu là lợi thế hoàn hảo cho quá trình này. Để các phản ứng hóa sinh thuận lợi nhất, độ ẩm không khí cần duy trì ở mức ổn định từ 90% đến 95%. Thời gian ủ bảo đảm kéo dài từ 3 đến 5 tiếng tùy thuộc vào nhiệt độ thời tiết thời điểm, đương nhiên mùa đông sẽ ủ lâu hơn mùa hè. Trong suốt thời gian này, người thợ phải liên tục đảo nhẹ trà để oxy tiếp xúc đều và nhiệt độ giữa các tầng trà không bị chênh lệch.

Quá trình ủ men kết thúc không dựa vào đồng hồ mà dựa vào cảm nghiệm của nghệ nhân qua hai dấu hiệu màu sắc và hương thơm. Toàn bộ cánh trà và búp trà chuyển từ màu xanh lục sang màu đỏ đồng hoặc màu nâu đỏ đồng đều. Vốc trà khô lên tay cảm quan về mùi hăng nồng của lá tươi phải bay biến, thế vào là hương thơm ngọt đậm của trái cây chín hòa quyện với mùi mật ong rừng. Ngay lúc đạt đến độ chín muồi, tức thì trà được đem đi sấy khô diệt men nhằm cố định hương vị, không để trà tiếp tục dâng men quá đà dẫn đến hỏng vị. Nghệ nhân phải đủ bản lĩnh điều khiển ngọn lửa thuần thục để trà chín đều mà không bị cháy mác. Cánh trà khô cong, có màu sắc hơi rêu mốc pha lẫn những đốm tuyết trắng muốt, mở ra ngửi thấy rõ mùi thơm bùi của nắng sương và thảo mộc…

Nếu không có bạn văn, làm sao mỗi lần Lai Châu tôi được nới thêm không gian Lai Châu. Vâng, tôi thêm gặp một người Lai Châu đa sắc, góc cạnh, hào sảng chẳng kém gì Đỗ Thị Tấc, sở hữu một cơ ngơi trà sạch cách quảng trường đô thị Lai Châu chừng 1500 mét đường bay. Rời nhánh nhựa ven phường Tân Phong, vượt lên ngọn dốc đất hếch tầm nhìn lên trời rồi mới trườn ngang đồi chè, dấu tích của nông trường quá vãng. Tôi chạm luôn cái “gia huy” làm từ tấm gỗ pơ-mu cũ, còn nham nhở dấu răng nanh lợn đề “Vũ gia trang” treo phập phều giữa nóc cổng. Một cái cổng không khóa, mở tuềnh toàng, một lời mời với cái lều lửng, quây tôn từ vách đến mái, sơn các màu ngẫu hứng, bên phải cạnh bộ bàn trà gỗ lũa bày góc sân sát bức tường cây hoa mua lá nhỏ Thái Lan. Sẵn phích nước, sẵn hộp trà, ấm chén, khách quen người lạ tiện chân ghé qua hỏi thăm đường thỏa mái tự nhiên pha trà, giải xong cơn khát có thể rời đi hoặc có thể mở cửa lều vào nghỉ…

Ngôi nhà nhỏ bên trái bạch phếch cả mái lợp lẫn tường vách kiến trúc mở, tận dụng mọi vật liệu tái chế, nhưng vẫn đạt hiệu quả thẩm mĩ. Khoảng sân đất trông ra hồ nước nhỏ bên lối nương rào lưới thép thưa thoáng qua vườn chè canh tác tiêu chuẩn bio, hàng lối ngay ngắn, lá xanh thẫm, cứng dày bởi được chăm bón toàn phân hữu cơ. Vừa mới xong đợt hái búp, đã kịp chớm nõn tơ non đuôi tôm. Với những bậc bước đổ beton vào lốp xe máy cũ, bước ngắn thì hụt, bước dài thì thừa, khiến người ta phải chú ý vào mỗi nhịp chuyển động. Lối ra võ đường ngoài trời của các môn sinh phái Nhất Nam, theo học võ sư Vũ Công. Nhất Nam - võ phái cổ truyền thuần Việt, có lịch sử lâu đời từ Châu Hoan, Châu Ái. Môn võ thuần nhất của người Việt. Nhất Nam dùng nhỏ đánh lớn, dùng yếu thắng mạnh, dùng nhu thắng cương, dùng ít địch nhiều. Bản chất đòn thế dựa trên việc né tránh linh hoạt, phản công nhanh và điểm trúng các vị trí hiểm yếu của đối phương.

Vũ Công ngồi đó, trên chiếc ghế lũa, gương mặt đặc sắc phảng nét người Đông Á, nụ cười hiền, mắt sáng, nhanh, nhưng luôn nhìn thẳng, vẫn không quên chăm sóc ấm hồng trà chế từ vườn nhà rót mời khách. Vị hương hồng trà phố thị cứ gợi nhớ đến vị hương trà shan Mồ Sì San…

Học kỹ thuật, trở thành công nhân điện lực, yêu mảnh đất sinh ra mình, muốn tụ do khám phá, Công rời ngành điện. Nhu cầu tự sinh, Công mày mò trên mạng, mua máy ảnh, tập chụp, có nhiều ảnh đẹp trở thành Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh chuyên ngành nhiếp ảnh lúc nào không hay. 

Tham gia các giải leo núi, Công giữ vai hướng dẫn và chụp ảnh cho mình, cho các vận động viên. Cuộc sống tiêu dao, việc nọ gọi việc kia. Mở các lớp dạy võ, cờ vua, cờ tướng, kỹ năng sống cho học sinh, cổng nhà nhà Công không khóa bởi không ngớt khách vãng lai từ các nơi đến để trải nghiệm nhặt trứng gà dưới gốc chè, hái chè, thưởng chè, trồng hoa… 

Dù có bận thế nào Công vẫn giữ tự do, thích trải nghiệm, thích lối sống thuận theo tự nhiên, thường đi chụp ảnh ở các bản xa, vượt các đỉnh núi. Công đam mê những đồ vật người ta bỏ đi, về chế tác thành những vật dụng hữu duyên. 

Năm covid, bị cấm túc, Công bàn với vợ muốn tự làm nhà theo kiểu tự cung tự cấp, lỡ ra có xảy ra dịch bệnh nữa thì có thể chủ động. Thừa hưởng từ bố mẹ cho một đồi chè, thế là vợ chồng bắt tay tự làm một ngồi nhà ngay giữa đồi chè với với gà, lợn, ngan ngỗng, vườn hoa cây cảnh, chè sạch…

7. Tôi ngỡ ngàng giữa Lai Châu quy hoạch đô thị xanh, thông minh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, là hạt nhân phát triển kinh tế - xã hội vùng biên Tây Bắc. Xây dựng mới những năm 2000, sở hữu hạ tầng đồng bộ và không gian mở. Sau Đà Lạt, Lai Châu là đô thị có độ cao lớn nhất với cao độ trung bình gần 1.000m. Nằm trọn trong thung lũng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, giữa hai dãy núi Hoàng Liên Sơn ở phía Đông và Pusamcap ở phía Tây.

Khách du giờ đây có thể check-in quảng trường ngay trung tâm đô thị tỉnh. Pusamcap, kỳ quan hang động huyền bí phía ngoại ô. Chợ phiên San Thàng, nơi hội tụ và giao thoa nét văn hóa, ẩm thực đa sắc của đa sắc tộc thiểu số. Hoặc Tam Đường Tea là một không gian trà kết hợp café , ẩm thực nướng BBQ, trên núi Long Tỷ Phùng cao 1.200m. Một điểm check-in và săn mây "gây bão" đối với giới trẻ cũng như du khách ghé thăm phố núi. 

Nhưng với tôi, con người non nước “trấn Gia Hưng” “gây bão” cách riêng, thêm một lần đến là một lần sâu sắc những đau nhớ cách xa, đêm tưởng muốn ôm ghì nét sông dáng núi Lai Châu cận lòng. Từ những li ti phấn hoa đỗ quyên kết với nhau bằng các sợi tơ mỏng thành từng dây dính, phát tán theo chân ong cánh bướm đến hút mật. Phấn của một vài loại đỗ quyên rừng chứa độc tố Grayanotoxin, nếu ong hút mang về tổ làm mật, thì sắc mật như nắng thu thấu quang đó có thể gây ngộ độc cho người, mà dân gian gọi là hiện tượng "mật ong điên". May sao, thứ hoa đỗ quyên gớm ác kia chỉ hiện diện vùng tuyết sơn Himalaya. Mật ong rừng Lai Châu ủ sâm Mường Tè tiếp thêm mạnh gân cốt chàng trai canh cột mốc và dầm chanh đào, ngâm gừng nương trục cảm hàn, dứt cơn ho sớm mai mẹ già, sương giăng chập tối xé phổi bé em…

Không nồng như hoa hồng, hoa nhài, hương đỗ quyên phảng phất, dịu ngọt   thoảng lên sự thanh lịch. Một biệt hương muốn thưởng, người bình thường phải mất công một hai ngày với trợ giúp của “mountain guide” mới chạm mũi vào bông hoa hoặc đứng giữa rừng đỗ quyên đỏ thắm lửa, đồ quyên hồng mộng mị, đỗ quyên vàng kiêu kỳ, đỗ quyên trắng xa cách mà tinh khôi nở rộ vào ngày lặng gió trên PuTaLeng hay Tả Liên Sơn mới cảm ra mùi thơm chân mộc của nó.

Trong rừng mưa nguyên sinh Hoàng Liên Sơn ngàn xưa giữa sắc đỗ quyên cổ thụ là những cây bạch trà xùm xòa rêu ông lão trầm mặc với sương mù. Sơ bộ thống kê Lai Châu sở hữu khoảng 16.509 cây chè cổ, nhưng chưa thể đánh số định danh từng cây, bởi sự phân bố không tập trung mà rải rác nhiều vị trí và bình độ khác nhau của từng gốc trên địa hình hiểm trở, hoặc thảm thực vật rừng già ken sít, và cũng để tránh tác động tiêu cực đến vỏ rêu phong tự nhiên của vưu vật sống soi bóng sóng Đà Giang. Nhìn lên bản đồ lâm phần, nguồn tài nguyên trà cổ được chuyên viên kiểm lâm và chức trách địa phương định lượng, khoanh vùng bảo vệ, và kế hoạch khai thác bền vững trên dải độ cao tự nhiên từ 1.200m đến hơn 2.900m so với mực nước biển. Từ 1.400m - 1.600m, bản Tả Lèng Lao Chải nổi tiếng hai giống Bạch trà và Hồng trà. Trên 1.700m, với vùng trà cổ thụ trăm tuổi Sà Dề Phìn, nơi có khí hậu lạnh giá, mùa đông thường xuyên dưới 5°C. Trên 2.000m, vùng trà Shan tuyết cổ thụ xã Mồ Sì San và một số khu rừng thâm nghiêm Mường Tè. Từ 2.600m - 2.900m, những cây trà cổ thụ hoang dã nằm sâu trong rừng già, giáp khu vực đỉnh núi Tả Liên Sơn. 

Bạch trà Lai Châu là dòng trà trắng thượng hạng từ búp chè shan tuyết cổ thụ vùng núi cao Tam Đường, Phong Thổ. Sinh trưởng tự nhiên trong mây mù ở độ cao trên 1.400m, búp trà có lớp lông tơ trắng muốt như tuyết. Nhờ quy trình chế biến tối giản chỉ làm héo và sấy khô, trà giữ trọn dưỡng chất tinh khiết nhất. Sản phẩm đạt chất lượng đỉnh cao với cánh trà đều, xốp nhẹ. Khi pha, nước trà màu trắng trong tựa nước suối ngàn, mang hương hoa rừng tao nhã và vị ngọt thanh, hậu vị sâu lắng, hoàn toàn không chát đắng. Búp bạch trà Lai Châu thẩm lậu qua đường mòn lối mở sang bên kia biên giới, được chế tác theo công thức của họ có giá lên tới ba bốn ngàn đô.

Sản lượng chè shan tuyết ở Mồ Sì San hay Tả Lèng, tận thu mỗi năm gom vén xấp xỉ 1.5 tấn búp khô. Người H'mong thu hái trèo vo lên những thân cây cổ thụ cao tới một hai chục mét, rêu mốc giữa sương giá trơn trượt, không phương tiện bảo hộ, để hái những búp đạt chuẩn đều phải dựa vào kinh nghiệm và sự khéo léo dùng cù nèo kéo từng nhành uốn cong vào phía mình nhẫn nại bấm mỗi búp non, hoặc tỉa đốn. Để làm ra bạch trà thượng hạng, người ta chỉ hái duy nhất một búp non chưa mở - 1 tôm, phủ đầy lông tơ sắc tuyết trắng. Cần tới hàng vạn búp non như vậy mới cho ra đời 1kg trà thành phẩm. 

Bên dưới sắc hoa đỗ quyên và nõn tuyết bạch trà cổ, đất rừng nguyên sinh Lai Châu còn sinh dưỡng nguồn tài nguyên quý hơn vàng sa khoáng Mường Tè, đất hiếm Đông Pao, Nậm Xe, Thèn Thầu, là thứ cây bội quý hơn: Sâm Lai Châu (Panax lai-chauensis). Dẫu có là kim cương khai thác sẽ vơi cạn theo năm tháng, nhưng Sâm Lai Châu càng trải thời gian lại càng bội trị giá bởi đặc hữu địa lý. Đây là dược liệu đặc hữu, cực quý hiếm, được xếp vào nhóm "Quốc bảo" của Việt Nam. Sâm Lai Châu phân bố hẹp ở phổ núi từ 1.500m – 3.000m so với mực nước biển, dưới tán rừng nguyên sinh ẩm ướt thuộc các huyện Mường Tè, Sìn Hồ, Phong Thổ, Tam Đường. Sâm chứa trên 70 loại saponin, sở hữu hoạt chất chống ung thư Majonoside-R2 (MR2) chiếm tỷ lệ lớn. Mọi bộ phận của cây đều làm được thuốc giúp bồi bổ sức khỏe nền tảng, giảm căng thẳng, điều hòa huyết áp, bảo vệ tim mạch và chống lão hóa. Riêng hợp chất đặc trưng silphioside E chỉ có ở sâm Lai Châu còn giúp chống đông máu hiệu quả.

Lẫn với thảm thực bì rừng mưa đậm cây bụi, Sâm Lai Châu mảnh như cỏ dại, vươn cao chừng hai gang tay nhưng là “con chíp” chứa nguồn năng lượng thần bí của linh khí Hoàng Liên Sơn. Những chiếc lá kép hình chân vịt xòe rộng, khắc viền răng cưa mềm như đang đón từng giọt sương mai rớt rơi từ tầng tán cổ thụ. Thân rễ mọc bò ngang, tựa rễ trúc kiên cường bám đá, kết tinh thành từng đốt củ vàng nâu đanh vững, khù khoèo, triết gom dưỡng chất từ địa tầng. Thêm mỗi một đốt, củ lại tăng thêm giá tiền triệu. Để rồi khi nhấp nhứ lưỡi dao mèo cắt ngang thăm phiến củ, sắc ánh tím hoặc hươm vàng, nhón nhấm một mảy hay đặt lên phiến lưỡi đã dội lên hương thơm nồng, đắng dịu, ấm qua từng hơi thở, lập tức mọi giác quan bừng tỉnh, sảng khoái. 

Nếu bạn tham gia một giải leo núi, trầy trợt vượt qua dốc đá, rừng cây đỗ quyên bên khe nước rủ rỉ, nghỉ dưỡng sức bên gốc cây trà cổ, quờ tay sang lùm xanh phía bên đụng vào rực rỡ vào một quả chín. Những chùm quả hình thận đỏ mọng, điểm xuyết chấm đen thần bí trên đỉnh, thắp sáng cả một góc rừng hoang sơ… thì có nghĩa là bạn đã trúng một vé độc đắc.

 Sâm Lai Châu tự nhiên từng bị thu hái dẫn đến nguy cơ cạn kiệt. Hiện, phương thức khai thác đã chuyển dịch sang hướng bền vững: Thu hái hạt giống để ươm trồng và kết hợp khai thác lá định kỳ làm trà, củ sâm được thu hoạch theo quy trình 7 bước đạt chuẩn GACP-WHO từ các vùng trồng hữu cơ dưới tán rừng

Dưới chân núi mây tứ bề suối khe dồi dào thủy lực cho sông Đà, nhưng mẹ thiên nhiên hào phóng ban tặng Lai Châu thêm 18 điểm nước khoáng, nước nóng tự nhiên. Nguồn ôn tuyền phân bố rộng khắp từ Vàng Pó - Phong Thổ, cho đến cụm mạch ngầm Phiêng Phát - Tân Uyên. Hấp lực suối khoáng Lai Châu sở hữu tới 7 nguồn nước nhiệt cao trên 50 độ C và sự đa dạng nhiệt độ và giá trị trị liệu vượt trội, dải nhiệt lý tưởng dao động từ 40 độ C đến 70 độ C tùy theo mùa. Giữa cái lạnh se sắt sương mờ đỉnh núi, ngửa mặt lên bầu trời Tây Bắc xanh sâu thả mình ngâm trong làn khói nước, ngắm cánh đồng Mường Than hay đồi chè uốn lượn bản Nà Ún quả là đã nhận ân sủng của tạo hóa.

Sự kỳ diệu trong giọt nước phun trào nơi địa phủ, kết hàm lượng lưu huỳnh, canxi, sunfua và magiê. Lượng khoáng phong nhiêu tựa như liều thuốc bổ nuôi dưỡng cơ thể, xoa dịu chứng đau nhức cơ, hỗ trợ điều trị viêm khớp mãn tính, đả thông kinh mạch và chữa lành các chứng viêm da, vảy nến. 

Dòng nước còn là một phần hồn của bản làng, nơi lưu diễn Lễ hội Then Kin Pang, Áp Hô Pang bên những cánh đồng cao ngô lúa.

Nhìn lên bản đồ địa hình, chỉ dấu mạng lưới sông ngòi tại Lai Châu ngoằn ngoèo đan xen dày đặc như những mạch máu xanh với khoảng 110 sông suối lớn nhỏ chiều dài từ 10km trở lên đều có tên riêng bắt đầu bằng chữ Nậm-đặc trưng ngôn ngữ của người Thái ưu trội ở địa phương. Hệ thống sông nhỏ tại Lai Châu được chia làm 3 chi lưu cấp 1.

 Hệ thống chi lưu Sông Nậm Na - Khu vực phía Bắc và phía Tây. Hệ thống chi lưu Sông Nậm Mu - Khu vực phía Đông và Đông Nam- Hệ thống chi lưu Sông Nậm Mạ và các suối đầu nguồn Sông Đà -Khu vực phía Tây và Mường Tè.

 Nhờ thế mà Lai Châu sở hữu nguồn năng lượng tái tạo chỉ sau Sơn La, hiện khoảng hơn 70 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đang phát điện thương mại, với tổng công suất khoảng 1.195 MW vào hệ thống lưới điện quốc gia. Bài toán suất đầu tư thấp, nhưng đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, chính trị bền vững vào lĩnh vực thủy điện  nhỏ ở Lai Châu đang thu được trái ngọt, từ những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu. Những cái tên ấn tượng, tiêu biểu đã được xướng lên: Thủy điện Chu Va 2, Chu Va 12, Mường Mít, Nậm Na… 

Nhờ cuộc gặp với Vũ Công, anh chàng lập dị trên đồi chè, từng đi kéo dây truyền tải điện mách, người chủ đầu tư nhà máy Thủy điện Chu Va 2 là đồng hương Phú Thọ với tôi. Hỏi ra sau này tôi mới hay nhân vật ấy sinh ở làng Thượng Nung, bạn “sống chết” cô em đồng nghiệp. Cùng ra lò trường cấp III Tam Nông. Đã đành. Một người khó tính. Hễ thấy nhà báo là lảng. Lại còn cùng quê với danh tướng Nguyễn Chuông - về hưu lập bàn thờ vong linh, mà một thời tôi được ông “sai phái” vài chuyện văn chương. 

Với Chu Va 2 công suất lắp máy là 12 MW, góp sản lượng bình quân hằng năm khoảng 43,23 triệu kWh vào hệ thống lưới điện quốc gia. Và nộp vào ngân sách Lai Châu cùng hệ thống các nhà máy thủy điện nhỏ một con số không nhỏ: 790 tỷ đồng tạo nguồn lực để Lai Châu thăng hoa, phát triển. Ờ thì người Phú Thọ hiện diện ở Lai Châu đâu có xoàng. Chẳng phải tự hào cho quê hương tôi khi nhắc tên Chu Va sao?

Suốt lịch sử Việt xưa đến hiện tại, thượng nguồn sông Đà luôn thuộc trung tâm chú ý của chính quyền Trung ương bởi nhạy cảm địa chính trị và sắc tộc. Bốn triều đại phong kiến đã liên tục chinh phạt các tù trưởng làm phản. Mở đầu là triều Lý vào năm 1037, Vua Lý Thái Tông cầm quân, phối hợp Thái tử Lý Nhật Tôn - sau là Vua Lý Thánh Tông - tiến đánh, dẹp tan cuộc quấy nhiễu của người man đạo Lâm Tây. Đến triều Trần - năm 1334 - 1335, Thượng hoàng Trần Minh Tông ngự giá Tây chinh, bình định cuộc nổi loạn của tù trưởng xứ Ngưu Hống quấy đảo vùng thượng lưu. Sang triều Lê Sơ - giai đoạn 1431 - 1432, Vua Lê Thái Tổ - Lê Lợi - dù trọng tuổi sức mạt vẫn ngự thuyền chỉ huy đại quân ngược dòng sông Đà, tiễu trừ lực lượng phản nghịch Đèo Cát Hãn chiếm cứ châu Ninh Viễn. Lê Lợi đã cho khắc 132 chữ Hán, trên vách núi Pú Huổi Chỏ năm 1431, bài minh răn đe thế lực phản loạn và khẳng định miền Tây Bắc thuộc về Đại Việt, được coi là "áng hùng văn vách đá" và “tuyên ngôn chủ quyền bằng đá” bất hủ. Sáu thế kỷ vèo vèo tên bay, ùng oàng hỏa pháo đắng giọng quân reo cộng hưởng ghềnh thác cuộn xoáy xác giặc hóa bùn dưới đáy hồ thủy điện chưa dứt dư ba…

Xây Nhà máy Thủy điện năm 2012, bài thơ khắc đá được khoan cắt, đưa lên cao 500m, ngự trong khuôn viên đền thờ mới trên đỉnh đồi phong quang view rộng hướng sông Đà uốn dòng. Chẳng những thế nơi phố thị phường Đoàn Kết hiện diện thêm một đền thờ vua Lê Lợi, thêm điểm đến của cư dân Lai Châu và khách du dâng hương, cầu an vào các dịp lễ Tết.

Triều Lê sơ tiếp tục được Vua Lê Thánh Tông củng cố chủ quyền bằng chiến dịch trừng tảo Lan Xang can thiệp cấu kết cùng tù trưởng Cầm Công với quy mô tổng tiến công 5 mũi vào tháng 8 năm 1479. Cuối cùng, dưới triều Nguyễn - giai đoạn 1831 - 1835, Vua Minh Mạng đẩy mạnh chính sách "Cải thổ quy lưu", phái đại quân tiễu phạt triệt để các thổ ti chống đối ở thượng nguồn sông Đà, chính thức đặt vùng đất vào bản đồ Đại Việt.

Lịch sử đã hào hùng, nhưng sông núi Lai Châu, ẩn tàng linh khí huyền hoặc. Nằm giữa đại ngàn Pa Thắng mây mù Thu Lũm, Hòn Đá Trắng trồi hiện như một linh tượng của vùng đất. Khối thạch anh nguyên khối đứng cô độc giữa rừng già thâm u, chỉ cách lằn ranh biên giới Việt - Trung chưa đầy một nhảng chân. Người Hà Nhì gọi đá là "A pó-ủ phú" - Ông già đá trắng. Từ thuở lập bản, họ đã thấy tảng đá phơi mình cùng sương gió dáng một vị thủ lĩnh già tóc bạc, trầm mặc hướng về phương Nam bảo vệ đàn con cháu. Trong tâm thức người Lai Châu, đá không vô tri mà mang linh hồn của vị "Thánh thạch trấn biên". Nơi hoang vu địa đầu, sự tôn kính của lòng dân kết tinh thành nghi lễ thiêng mỗi tháng Chạp. Quện hương rượu men lá và gió ngàn, làn khói thuốc lào vờn xoáy quanh đá trắng bay lên như lời thưa tôn kính tới vị thần canh giữ bờ cõi. Trong muôn trùng núi cao vực sâu, "A pó-ủ phú" đã hóa thành một "cột mốc lòng dân" canh giữ bình yên cho dải đất biên thùy.

8. Cái nhớ không nằm ở sự hùng vĩ đến ngợp thở của đỉnh PuTaLeng, cũng chẳng phải nét hoang dại của ba mươi cây số đèo Ô Quy Hồ gió thốc hay cả một miền mây trắng Sìn Hồ. Day dứt vì tôi đã nhớ những con người. Tôi nhớ bóng dáng gầy của người mẹ H'mong gùi bé sau lưng, nhớ đôi bàn tay thô ráp đẫm xanh sắc chàm gieo hoa trên váy áo, và nhớ làn khói bếp thơm mùi pa pỉnh tộp the the nụ cười hiền thiếu phụ Thái trong một chiều mờ sương Than Uyên...

Tôi nhớ HOA VẪN NỞ TRÊN PUTALENG, được bạn đọc và cộng đồng mạng chào đón, được giải thưởng “Tấm gương thanh niên sống đẹp” của Trung ương Đoàn, được in nối bản đôi lần, nhận nhuận bút, Hà Mạnh Phong ngỏ ý với tôi muốn gửi số tiền ấy vào quỹ từ thiện. Nhưng tôi bảo nhỏ, Phong hãy giữ số tiến ấy chăm lo sức khỏe cho bản thân, và phần nào có thể thì san sẻ với những anh em bè bạn Lai Châu còn cơ cực xung quanh... 

Nhớ Vũ Công, chàng trai chọn một lối riêng cởi tấm lòng với mọi du khách. Lúc rời trang trại trà sạch và trải nghiệm tôi hỏi em một bâng quơ:

- Nếu lần tới anh lên, lỡ em không ở nhà mà lang thang đi chụp ảnh tầm đồ tít mù trên bản thì biết làm sao?

- Cổng nhà em có khóa đâu, chỉ sợ anh chẳng muốn, nếu thích thì cứ ở nhà em có sao.

Tôi “chê” bạn văn “anh Tấc” hay vắng ở Lai Châu do lang thang các vùng miền khắp nước theo các lời mời dự trại viết. Lên Lai Châu mà không đụng độ “anh Tấc” nghe nõ điếu thuốc lào đon đót thì làm sao ngọt giọng hồng trà bạch trà và ngất ngư rượu Thu Lũm cho đành. Y thị cười tưởng vỡ loa điện thoại:

- Lo hão, cứ đến Hội Văn nghệ, Báo Đài… nhỡ chẳng gặp ai… thì ù sang ban này ban kia… bẩu là bạn của Tấc… làm sao mà nhạt giọng được. 

Vượt đèo rồi xuôi đèo Ô Quy Hồ, lòng tôi bỗng thắt. Hóa ra, người ta chỉ thực sự biết mình yêu một mảnh đất là khi bắt đầu đếm ngược những phút giây phải rời xa nó. Sắp thôi, hầm xuyên Hoàng Liên tính phút. Expressway thẳng tiến Ma Lù Thàng. Về Lai Châu, ngược Lai Châu, đến Lai Châu phương ngả nào cũng thuận.  Anh bộ đội biên phòng họ Bùi quê Phủ Lý. Người thầy cắm bản gốc Thái Bình họ Lê. Và em nữa, cô nhà báo mang họ Nguyễn gái Sơn Nam Hạ theo chồng sơn cước. Hay anh công nhân làng đồi trung châu Phú Thọ họ Đinh vận hành thủy điện. Muôn gương mặt họ Giàng, họ Tẩn, họ Quàng, họ Vương, họ Tống… họ Chu, họ Pờ trên PuTaLeng đến Mường Tè Thu Lũm tựu ngời đa sắc một diện mạo Lai Châu. 

 Nước sông Đà mãi chảy sáng nguồn, những chiếc váy chàm vẫn sẽ tiếp tục bung tròn bên nương cải hoa vàng sắc đá mờ sương, và những bàn tay đốt lửa sẽ sưởi ấm mùa đông chưa tới. Xin gửi lại nơi cổng trời ngôi sao nhỏ, một mảnh hồn tôi để lại những bản làng viễn biên nơi dấu chân xưa đã đặt. Chưa xa mà đã nhớ - Lai Châu! Hẹn ngày trở lại, để lại được ngồi bên bếp lửa giữa những bức tường đất nơi thượng nguồn, nâng bát rượu men lá và được thấy những bông hoa trên đá lại nở giữa lòng người... 

Những dữ liệu trong bài viết được khai thác từ: https://laichau.gov.vn.

Tùy bút của Nguyễn Tham Thiện Kế

Tin liên quan

Tin mới nhất

“Hiển nhiên” – cái cúi đầu đầy kiêu hãnh của một bản thể hiện sinh

“Hiển nhiên” – cái cúi đầu đầy kiêu hãnh của một bản thể hiện sinh

Đọc bài thơ “Hiển nhiên” của Ngô Đức Hành, tôi cứ trầm ngâm mãi. Giữa một mùa thơ xôn xao đa thanh, những sắc màu Tây hóa, bài thơ xuất hiện như một dòng suối mát lành, lặng lẽ chảy qua bụi bặm của đời thường. Nó không dùng thứ nhạc điệu dồn dập mà cứ thầm thì đưa ta trở về với bản ngã nguyên sơ, với những điều giản dị mà siêu cảm.

Video: Xót xa màn bẻ cong iPhone Duo đắt đỏ

Video: Xót xa màn bẻ cong iPhone Duo đắt đỏ

Một YouTuber đã kiểm chứng độ bền màn hình của iPhone Duo. Kết quả này phần nào giải thích lý do tại sao có rất ít báo cáo về tình trạng thiết bị bị hỏng ngay sau khi ra mắt.