Cội nguồn thơ Nguyễn Long…

Nguyễn Long đến với thơ ngay ở cái tuổi hoa niên rất đẹp của cuộc đời.

Tính tới thời điểm hiện tại Bên bến sông Cầu là tập thơ thứ 14 của Nguyễn Long. Không biết có ngầm ý gì mà nhan đề các tập thơ của ông rất kiệm lời, chỉ từ ba đến bốn từ: Hoa chuối rừng - 2003, Một thoáng đời đi - 2006, Theo mảnh trăng ngàn - 2007, Mưa nguồn gió núi - 2008; 2020, Núi ấm tình người - 2009, Sao khuya đáy suối - 2009; 2020, Ngược dòng sông Lô - 2010; 2020, Ngọn núi con sông - 2011; 2020, Thác rừng và sóng biển -2013, Tình yêu biển đảo - 2014, Đi giữa non sông -2019, Về giữa nguồn thương - 2020, Năm tháng không quên - 2020 và gần đây Bên bến sông Cầu - 2024. Ngoài ra ông còn viết phê bình tiểu luận, in riêng cuốn Ngọn đèn và trang sách - 2005 và ba cuốn in chung với đồng nghiệp Đào Thủy Nguyên - Suy nghĩ từ những trang văn, và với con gái - TS Nguyễn Diệu Linh Những chặng đường thơ  - 2003, Cảm nhận thời gian - 2010, 2019.

Nguyễn Long đến với thơ ngay ở cái tuổi hoa niên rất đẹp của cuộc đời. Năm đầu cấp ba, ông đã làm thơ, đạt giải nhì cuộc thi thơ tỉnh Nghĩa Lộ. Khi công tác ở Tây Bắc hay là chiến sĩ giải phóng quân ở chiến trường khu V, ông vẫn làm thơ với cảm hứng ca ngợi quê hương đất nước, những năm tháng hào hùng của dân tộc. Nhìn chung cảm hứng nổi bật trong thơ Nguyễn Long hướng về lịch sử, dân tộc, quê hương đất nước và lãnh tụ. Hưởng ứng Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, năm 2010 tập thơ Núi ấm tình người của Nguyễn Long đạt giải xuất sắc. Ông là một trong số các nhà thơ tham gia hầu hết các cuộc vận động sáng tác về chủ đề Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, và lần nào cũng giật giải. Nguyễn Long là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Thái Nguyên (1987), hội viên Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (2002).

Khác với những tập thơ trước, ở Bên bến sông Cầu, trong ý thức sáng tác cũng như trong cấu trúc tập thơ, Nguyễn Long cảm thấy hơn lúc nào hết là sự gắn bó của thơ mình với dòng mạch thơ Thái Nguyên và rộng ra với cuộc sống và con người Thái Nguyên. Vì vậy, như một sự thôi thúc, tập thơ thứ 14, tính từ bài thơ ghi tên tác giả năm 1975, khi khoác ba lô từ chiến trường trở về Thái Nguyên đến năm 2024 như một cuốn “album” đời người và đời thơ Nguyễn Long. Trong văn học hiện đại Thái Nguyên, ông là người có thơ in từ 1975, năm đất nước thống nhất đến hôm nay trong ngữ cảnh đổi mới, hội nhập vẫn mê mải với thơ, theo tôi cũng là trường hợp hiếm hoi có đời viết thâm niên như thế. Vốn là người cẩn trọng, luôn chăm sóc, lưu giữ từng bài thơ của mình lâu nay, mỗi bài thơ trong tập Bên bến sông Cầu đều được tác giả chú thích rõ sự hiện diện của bài thơ theo trình tự thời gian, cũng là những dấu mốc trên hành trình sáng tác của nhà thơ nửa thế kỷ qua.

Cội nguồn thơ Nguyễn Long… - 1

Tập thơ "Bên bến sông Cầu".

Trong thơ Nguyễn Long nói chung và ở tập thơ mới đây nhất Bên bến sông Cầu các trạng thái tình cảm của chủ thể trữ tình luôn bộc lộ một cách bình dị, chân thành từ những hoài niệm về quá khứ đến cuộc sống và con người trong hiện tại. Nguyễn Long bước chân đến đâu là cảm xúc thơ dâng đến đó. Trong những bài thơ ấy, người đọc nhận ra sự biết ơn của tác giả với năm tháng  cuộc đời, với quê hương, xứ xở đã nuôi dưỡng cảm xúc thơ ca nơi ông, nhận ra tình cảm và niềm tin với vùng đất đã thành nơi an trú trao gửi yêu thương, hạnh phúc của đời ông. Và đó chính là cội nguồn vun đắp cảm xúc nghiêng về niềm tin yêu, hy vọng khiến thơ Nguyễn Long hắt lên ánh sáng với những gam màu tươi xanh, tin cậy ở con người và cuộc đời. Người đọc lắng nghe tiếng nói đầy xúc động trong Ngày trở về, hòa nhịp với Niềm vui trên trận mới, ngỡ ngàng với từng cánh đào xinh đón Xuân về trong bản nhỏ. Năm tháng trôi đi theo vòng quay của thời gian, trong thơ Nguyễn Long cảnh quan trình hiện như các bức tranh ghi lại những sinh hoạt đời thường của con người trong thời điểm chuyển mình của đất nước cuối những những năm 80 của thế kỷ XX (Vào mùa cấy, Sáng thu, Gửi từ đất bạn).

Có thể nói đia danh, nơi chốn được khởi nguồn từ những tập thơ trước đó như một “xuyên văn bản” lại tiếp tục dòng mạch cảm hứng sinh thái, văn hóa trong Bên bến sông Cầu. Ở đây, địa điểm, đia danh không chỉ là cảnh quan để thưởng lãm mà là nơi “trú ngụ tâm hồn” của chủ thể trữ tình. Ở mỗi địa điểm mà nhà thơ đặt chân tới đều như được tái tạo “sự sống” trong không gian động. Người làm thơ bày tỏ tâm tình, khơi gợi niềm hoài nhớ, làm sống dậy những kỷ niệm xa mờ mà đầy chất chứa và giăng mắc: “Chiều một thoáng mà chứa đầy năm tháng / Gặp một lần để tình mãi chung chiêng” (Chiều chiến khu xưa). Những câu thơ bao chứa không gian, thời gian với sự cộng hưởng các màu sắc, hương vị, đã làm nổi bật một địa danh in dấu lãnh tụ Hồ Chí Minh nửa thế kỷ qua vẫn luôn bừng sáng vẻ đẹp di sản lịch sử và văn hóa của vùng đất ATK năm xưa: “Nắng chiều dẫn lối về đây/ Cọ nghiêng tán biếc, ngất ngây hương chè/ Thác bay lấp loáng đèo De/ Tỉn Keo, Khuôn Tát mây che ngang trời/ Bâng khuâng tìm dấu chân Người”… (Trở lại Phú Đình). Những ký ức mang dấu ấn lịch sử từ Một thoáng Bạch Thông đến Bên lán Nà Mòn, từ Chùa hang Định Hóa đến Cầu Mây chiều biếc, từ Ngày thu về núi đến Sắc thu đưa người đọc trở về những năm tháng đã lùi xa của một thời Thái Nguyên là thánh địa của thủ đô gió ngàn, của “quê hương cách mạng làm nên cộng hòa” mà ngày nay đã trở thành điểm tham quan du lịch về nguồn mang ý nghĩa - địa văn hóa đang ngày càng hấp dẫn du khách bốn phương. Điều đó cho thấy ký ức trong thơ Nguyễn Long không chỉ tồn tại bởi một cá thể mà trở thành ký ức của mọi người, của cộng đồng, góp phần truyền cảm hứng và làm sống dậy ký ức cội nguồn: “Một lần về ơn sâu ghi nhớ / Niềm tự hào sáng dặm đường xa/  Nà Mòn ơi , trám bùi vương trong gió/ Thơm tình người miền đất chiến khu xưa” (Bên lán Nà Mòn).

     Trở về với cội nguồn trong thơ Nguyễn Long không chỉ là sự nhắc nhớ về dĩ vãng, quá khứ mà còn là cách nhìn , cách cảm của nhà thơ về con người và cuộc sống hôm nay, cụ thể với cái hiện tại đời thường đang tiếp diễn theo nhịp tháng ngày. Nhưng ở đây những cái bình dị đời thường của con người luôn dung hòa, tương ái với thiên nhiên. Ngay cái tên của tập thơ Bên bến sông Cầu đã cho thấy ý tưởng và tâm thức thiên nhiên với những hình ảnh thơ dân dã, gần gũi từ: “Những quả nhãn cuối cùng đong đẩy vẫy/ Lá doi ngơ ngác vẫy đôi tay / Thấy em phơi áo màu than cháy/ Biết thu về thả gió heo may” (Heo may) đến Đêm Đình Cả: “Lạnh cóng người núi có ngủ yên đâu/ Điện sáng ngã tư, thơm ngô nếp nướng / Gió hổn hển giục sương khuya trút xuống/ Mảnh trăng liềm tan nỗi nhớ vào nhau”. Trong thơ Nguyễn Long sự sống động của thiên nhiên đã minh chứng sự hiện diện “ngang bằng” của chúng với con người được thể hiện một cách chân thực, đan xen yếu tố văn hóa từ Chợ xuân bên bến sông Cầu, Đường xuân, Hương quê, Nhớ Võ Nhai, Bên hồ núi Cốc, Chiều cuối năm, Mưa xuân, Đêm Thái Nguyên, Ngày mùa, Cây đa đôi, Đèo Khế, Hồ Phú xuyên, Chiều Tam Thái, Phiên chợ mùa đông, Đường lên ATK, Chợ Chu đến Ngày xuân trên đèo De, Thị xã sông Công, Đi giữa hương chè, Phúc Thuận ngày thu, Tâm tình cuối thu, Giữa xuân, Đồng xuân, Bên bến sông Cầu, Về xóm Chòi.

Trong Bên bến sông Cầu tiếng nói của thiên nhiên sinh thái phủ sóng gần hết tập thơ luôn song hành với đời sống con người, và vì thế nó cập nhật với những “tin tức buổi chiều”, với những bức tranh sinh hoạt đời thường của con người, mang hơi thở của đời sống, Cái nhìn của nhà thơ do vậy cập nhật và kịp thời đáp ứng thực tại đang diễn ra với việc giải cứu trái cây trong mùa dịch covid (Tình thương), tình đồng loại trong những ngày phong tỏa (Tấm lòng Việt, Ca nhiễm covid đầu tiên ở Thái Nguyên, Không gian xanh, Mùa hè nhớ mãi, Đón chào tháng Tám, Chợ Thái chiều cuối năm, Dương Thành chống dịch, Tân Khánh, Trở lại Tân cương). 

Trong Bên bến sông Cầu, về hình thức thể loại, Nguyễn Long sử dụng hầu hết các thể thơ : tự do, năm chữ, lục bát và thơ bốn câu. Dễ nhận ra nhà thơ sở trường với thơ lục bát và thơ bốn câu. Những bài thơ dạng ngắn chiếm ưu thế trong phương cách thể hiện của tác giả. Ở đó sự dồn nén, độ hàm súc đã truyền tải một năng lượng cảm xúc nhờ tứ thơ chặt chẽ, có sức chứa mạnh mẽ (Qua Đèo De, Đóa hồng, Tiếng đời, Hương quê, Valentine, Cây đa đôi, Trung thu nhớ Bác, Đèo Khế, Đát đắng, Chiều Tam Thái, Phiên chợ mùa đông…).

Ngược lại với những bài thơ dài Thăm đình Phương Độ, Cảm xúc đầu năm, Mùa xuân dâng Đảng, đều có ý nghĩa thời sự nhưng cảm xúc dàn trải, câu thơ diễn đạt trượt theo vần điệu, khuôn sáo. Đôi khi vì quá phấn chấn trong một vài bài thơ còn sót những từ mòn sáo, thiếu sự chọn lựa ngôn từ phù hợp, mới mẻ. Nhưng với người coi thơ là tiếng nói tự nhiên và thành thực của cảm xúc, không cầu kỳ trong thi pháp thể hiện thì với hơn chục tập thơ nói trên đã là một “vốn liếng” đáng kể của nhà thơ Nguyễn Long.

Có thể nói, trong thơ Nguyễn Long nói chung và Bên bến sông Cầu nói riêng, cho thấy không phải cứ là thơ thì phải buồn, cô đơn, đau khổ mà thơ còn thể hiện niềm vui, tin yêu vào con người và cuộc đời, thơ còn lan tỏa, cộng hưởng niềm vui đến với người đọc và cộng đồng tiếp nhận. Có lẽ, không phải ngẫu nhiên Nguyễn Long ghi chú bài thơ khép lại vào ngày 22/9/2024 với nhan đề Giữa thu, nghĩa là vẫn còn thu, còn tuần tự bốn mùa theo sự vận hành của thời gian, đặc biệt vẫn hòa vào sinh thể văn chương Thái Nguyên và rộng ra với cả nước nhân kỷ niệm 80 năm ngày độc lập của dân tộc.  

Nguyễn Bích Thu

Tin liên quan

Tin mới nhất