Lịch sử triều Nguyễn qua những trang văn nữ giới
Có thể nói, chưa bao giờ các nhà văn “đổ xô” viết về lịch sử như trong thời đại kỹ thuật số hiện nay. Trong thành tựu đa dạng của văn học đương đại có sự đóng góp của tiểu thuyết lịch sử như một khuynh hướng. Từ độ lùi thời gian, từ quan niệm mới, từ cái nhìn đa chiều, lịch sử trở thành mảnh đất dễ khai thác; dẫu không phải cách viết về lịch sử nào cũng thành công. Trong những thành tựu của tiểu thuyết lịch sử có sự đóng góp không nhỏ của các nhà văn nữ, đặc biệt là lịch sử triều Nguyễn, vốn còn một mảng trống của văn học đương đại.
So với nam giới, nhà văn nữ ít có mặt trong đề tài lịch sử. Tiểu thuyết về lịch sử triều Nguyễn lại càng hiếm. Cho đến nay, ngoài Nguyễn Hữu Nam với chùm ba tiểu thuyết về ba vị vua cuối triều Nguyễn (Gốm, Vua Thành Thái, Vua Duy Tân trong tôi), chỉ có một vài nhà văn nữ bền bỉ khai thác đề tài về lịch sử triều Nguyễn là Trần Thùy Mai, Trường An, Nguyễn Thị Kim Hòa..., trong đó Trần Thùy Mai và Trường An là hai nhà văn đặc biệt có đóng góp lớn vào thành tựu tiểu thuyết lịch sử về triều Nguyễn. Nguyễn Thị Kim Hòa chỉ chạm vào một góc Nguyễn triều với truyện ngắn Nắng quái Tây Nam thành, nhưng từ số phận của nữ tướng Bùi Thị Xuân đã phác họa một chặng đường lịch sử dài, từ khi Tây Sơn thắng thế đến khi Nguyễn Ánh lên ngôi và trừng phạt tàn độc vua chúa, tướng lĩnh “ngụy triều”, trong đó có người đàn bà từng khiển voi làm kinh hồn bạt vía quân đội nhà Nguyễn.

Một số tác phẩm tiểu thuyết lịch sử viết về triều Nguyễn của các nhà văn nữ.
Viết về lịch sử triều Nguyễn là một sự lựa chọn
Lịch sử thì cố định (“chiếc đinh” theo cách nói của Dumas) còn tiểu thuyết lịch sử thì đa dạng, chủ yếu do điểm nhìn và sự lựa chọn “câu chuyện” của nhà văn. Giữa những tên tuổi đã thành “thương hiệu”, các nhà văn nữ trình hiện một lối viết khác về lịch sử. Cái khác của các nhà văn nữ là ở chỗ đã chọn một giai đoạn lịch sử còn nhiều góc khuất, còn nhiều quan điểm đối lập nhau, nhiều sử liệu chưa được đề cập.
Từ một góc nhìn, các nhà văn nữ đã góp phần không nhỏ trong việc mở lối vào một thời kì đau thương và có những mặt cần làm rõ. Họ không dùng những biểu tượng vương quyền để dựng lại một thời kì lịch sử vàng son mà thiên về những đổ nát lịch sử, những phân tán lòng người, những rối ren triều chính với những biểu tượng thiên về tính âm để làm rõ hơn cõi bên trong của tâm hồn con người. Lịch sử hiện ra từ những mảnh ghép tâm hồn. Nhiều mảnh ghép làm nên một giai đoạn lịch sử. Qua đó, người đọc có cảm giác đang sống trong thời đoạn lịch sử ấy, được khóc cười căm giận yêu thương cùng với nhân vật và đặc biệt là cảm giác được đối thoại với lịch sử, đối thoại với nhà văn- người kể chuyện lịch sử- qua hàng loạt những vấn đề, những câu hỏi vang lên từ những trang văn.
Từ Dụ thái hậu là một trường thiên tiểu thuyết gồm 69 chương, viết về thời nhà Nguyễn. Bộ tiểu thuyết xoay quanh cuộc đời của Từ Dụ Thái hậu, từ khi là cô gái tên Phạm Thị Hằng, con gái viên quan đại thần Phạm Đăng Hưng cho đến lúc ở vị trí đỉnh cao thái hậu. Thời gian lịch sử được tái hiện trong tiểu thuyết là 30 năm qua các đời vua Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị (từ Gia Long đầu triều đến đầu thời Tự Đức). Như một sự tiếp nối dòng chảy lịch sử triều Nguyễn, Công chúa Đồng Xuân viết về những sự kiện lịch sử đầy biến động trong khoảng thời gian 40 năm từ 1859 đến 1900 từ đời vua Tự Đức đến đời vua Đồng Khánh. Dẫu lấy tên một vị công chúa làm nhan đề tác phẩm, nhưng cuốn tiểu thuyết đề cập những biến động dữ dội trong vương triều, những vị vua chỉ thoáng qua trên ngài vàng như Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh; những xung đột giữa triều đình và Pháp; những cuộc tàn sát giáo dân... Ở cả hai bộ tiểu thuyết, với kết cấu tuyến tính, Trần Thùy Mai tái hiện một cách sinh động chiều dài lịch sử với nhiều sự kiện đau thương.
Tập trung viết về triều Nguyễn là một sự lựa chọn của Trường An. Chủ động chọn vấn đề khó, nhằm giải mờ, giải thiêng và cả chiêu tuyết cho nhiều nhân vật lịch sử của Triều Nguyễn, Trường An đã gây ấn tượng mạnh với bộ ba tiểu thuyết lịch sử Thiên hạ chi vương, Vũ tịch, Hồ Dương. Trong cả ba cuốn tiểu thuyết này, Trường An đã chọn Gia Long Nguyễn Phúc Ánh thay vì Quang Trung Nguyễn Huệ, chọn Ngọc Bình thay vì Ngọc Hân, chọn giai đoạn xuống dốc và tan rã thay vì thời kỳ huy hoàng rực rỡ của Tây Sơn, làm sườn cho câu chuyện của mình. Tâm đắc với lịch sử triều Nguyễn, với quan niệm “lịch sử ghi chép rất lạnh lùng, (...) chỉ ghi chép số liệu một cách khô khan, nhiệm vụ của người viết tiểu thuyết lịch sử là phải thêm da thêm thịt cho nhân vật, số phận”, Trường An đã tái hiện sống động một giai đoạn thật nhiều vết mờ và cũng gây nhiều tranh luận gai góc trong tiến trình sử Việt.
Viết về triều Nguyễn, mỗi nhà văn đều có góc nhìn riêng, lối viết riêng. Tuy vậy, cùng trở về bối cảnh lịch sử triều Nguyễn, cùng tham khảo những trang dữ liệu, cùng nỗi niềm phái nữ, các nhà văn đã gặp gỡ nhau ở cái nhìn lịch sử từ bi phận hồng nhan. Và từ cuộc đời của các giai nhân trong lịch sử, họ đã xua tan lớp sương mờ lịch sử, đi vào những góc khuất, luận giải lịch sử bằng thế giới tâm hồn. Đó cũng là một con đường dẫn vào quá khứ, đặc biệt là quá khứ nghiệt ngã của 143 năm vương triều Nguyễn.
Luận giải và đối thoại về những “sự thật lịch sử” của Nguyễn triều
Xem sự tưởng tượng về lịch sử là đối tượng chính của văn học đề tài lịch sử, nhiều nhà văn đã chọn diễn giải lịch sử từ điểm nhìn cá nhân, thể hiện tinh thần đối thoại trong cái nhìn và những luận giải về lịch sử.
Trường An là một trong những nhà văn xem tự sự hư cấu lịch sử là một hành vi xác tín bản ngã. Trường An ghi trên bìa sách Thiên hạ chi vương: “Tin rằng tìm hiểu lịch sử cũng là cách để nhìn nhận chân xác bản thân và cuộc sống; và viết là cách để đối thoại, phản biện, hiểu sâu hơn các vấn đề”. Từ cách đặt vấn đề đó, tiểu thuyết lịch sử của Trường An là những cuộc đối thoại triền miên. Nhà văn thường đặt ra những câu hỏi về những khoảng mờ lịch sử.
Thiên hạ chi vương là cuốn tiểu thuyết lịch sử đặc biệt trong bộ tiểu thuyết về triều Nguyễn của Trường An. Trong tác phẩm này, nhân vật lịch sử ngỡ như rất nhạt qua cái nhìn, suy nghĩ, cảm nhận của một vị vua Xiêm La đầy mưu mô và từng trải, nhưng qua từng mảnh ghép đối thoại, độc thoại nội tâm, dòng ý thức, chúa Nguyễn Phúc Thuần hiện ra đầy đặn một chân dung. Dựng lại chân dung Nguyễn Phúc Thuần (vị chúa Nguyễn thứ chín ở Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam), tác giả đã xây dựng tính cách nhân vật từ điểm nhìn đa diện. Cái khách quan của lịch sử lúc này đã được nhìn từ cái nhìn chủ quan của người kể chuyện.
Tiểu thuyết lịch sử của Trường An là những cuộc đối thoại đầy chất triết lí. Có lúc nhà văn ẩn mình sau các nhân vật để đối thoại với những vấn đề lớn về lịch sử. Đó là một Quang Toản khôn nguôi dằn vặt về sứ mệnh đế vương (Vũ tịch). Đó là một Gia Long dùng oán thù chống lại oán thù bởi “Oán thù là mục đích, oán thù cũng là phương tiện”, bất chấp “những kẻ suy nghĩ giản đơn chỉ biết có đúng và sai, kẻ thù và đồng minh, “bên ta” và “bên địch”, anh hùng và tiểu nhân, tô vẽ và chà đạp”. Bằng cách để cho nhân vật vua Gia Long đối thoại với Ngọc Bình, cô công chúa “con vua lại lấy hai chồng làm vua” vốn chấp nhận theo ông, bởi lời hứa sẽ giữ gìn đất nước bằng bất cứ giá nào của một vị vua mới; với tiểu thuyết Vũ tịch, Trường An đã bênh vực, chiêu tuyết đồng thời cho cả ba nhân vật bị vướng vào nhau bởi những éo le của lịch sử: Gia Long, Ngọc Bình, Quang Toản.
Trong truyện lịch sử của các nhà văn nữ, nhà văn/ người kể chuyện thường hoá thân vào nhân vật lịch sử để đối thoại, độc thoại. Lịch sử được tái hiện với nhiều chiều kích, đặc biệt là chiều sâu tâm hồn. Lời độc thoại miên man xuyên suốt chiều dài các tác phẩm của Nguyễn Thị Kim Hòa, Trường An. Nhiều đoạn đối thoại trong tác phẩm của Trần Thùy Mai cũng là những lời độc thoại dài với điểm nhìn người kể chuyện được di chuyển vào nhân vật. Có thể nói, hóa thân vào nhân vật và kể chuyện từ điểm nhìn bên trong, cả ba nhà văn nữ Trần Thùy Mai, Trường An, Nguyễn Thị Kim Hòa đều đã nhìn thấu nỗi cô đơn của sứ mệnh đế vương và bi kịch của nhiều nhân vật lịch sử bị lôi kéo vào trò chơi, tham vọng đế vương của họ.
Diễn giải lịch sử từ những chuyện “có thể có” thay vì chuyện “đã có” cũng là một cách để các nhà văn “nhìn” lịch sử từ mong muốn nó “có thể là” thay vì nó “đã là”. Từ một sự kiện được ghi chép trong sử sách - con gái út của vua Thiệu Trị, Nguyễn Phúc Gia Phúc góa chồng năm 26 tuổi, vì tư thông với anh trai mà bị vua Hàm Nghi phế thành thứ dân, mãi đến đời vua Đồng Khánh mới được phục vị công chúa, sau đó mất vào năm 41 tuổi - Trần Thùy Mai đã thương cảm cho một số phận hồng nhan trước những bà đào lịch sử mà viết nên tiểu thuyết Công chúa Đồng Xuân, lật lại một trong những vụ án tai tiếng bậc nhất triều Nguyễn.
Những điểm mờ của lịch sử, những mưu đồ chính trị mà xưa nay không ít nữ giới bị biến thành công cụ, trở thành điểm tựa để Trần Thùy Mai viết lại một lịch sử “khác” - lịch sử của một người đàn bà hoàng tộc nhiều khao khát và trở thành tội đồ của lễ giáo, của gia quy; lịch sử của một giai đoạn triều Nguyễn gắn với những thân phận và bi kịch nữ giới. Không tin vào những nghi vấn chưa được xác thực của một số nhà nghiên cứu lịch sử về mối quan hệ giữa Trương Đăng Quế và Phạm Thị Hằng, cội nguồn của việc vua Thiệu Trị phế trưởng lập thứ, để cuối cùng Hồng Nhậm (nghi vấn là con của Trương Đăng Quế) lên ngôi, dẫn đến việc Hồng Bảo nổi loạn và Loạn chày vôi sau đó, Trần Thùy Mai đã dệt nên một mối ân tình sâu nặng, vẹn nghĩa, trọn tình của Từ Dụ thái hậu đối với vị thượng thư đầu triều. Từ điểm nhìn nữ giới, thay vì tập trung vào những tranh giành quyền lực và các lũng đoạn của đại thần, tiểu thuyết Từ Dụ thái hậu của Trần Thùy Mai đã tô đậm vẻ đẹp nết na, hiền hậu của Phạm Thị Hằng, từ khi chỉ là một cô thiếu nữ con nhà gia thế, đến khi ở tột bực ngôi cao, qua một mối tình đơn phương “có thể có” của người bạn thanh mai trúc mã Trương Đăng Quế, bằng những hình dung của một nhà tiểu thuyết.
Lịch sử qua trang văn của các nhà văn nữ vì thế là một lịch sử của cảm xúc hơn là lịch sử của những sự kiện chỉ được chép lại. Có thể nói, trong tương quan với các nhà văn nam, tự sự hư cấu về lịch sử của các nhà văn nữ ít nhiều đã mang một dáng hình “khác”, làm phong phú thêm những hình dung của văn học về những biến cố, sự kiện, những cuộc đời, số phận đã lùi xa. Từ những góc nhìn đa dạng, các nhà văn nữ đã đối thoại với lịch sử triều Nguyễn, “buộc” người đọc từ những trang văn suy ngẫm sâu hơn về lịch sử, về thời cuộc. Luận giải, đối thoại với lịch sử; đa dạng hóa điểm nhìn nhưng vẫn giữ độ chân thật; hư cấu nhưng không làm biến dạng những câu chuyện lịch sử phức tạp một thời, lịch sử triều Nguyễn qua các trang văn nữ giới không chỉ đã sống mà còn đang sống.
Những bi phận hồng nhan triều Nguyễn
Tiểu thuyết lịch sử ngoài những sự kiện trọng đại còn khắc họa những mối tình, những cuộc hôn nhân lịch sử. Xây dựng hình ảnh những giai nhân trong lịch sử là điều quen thuộc trong bất kì cuốn tiểu thuyết lịch sử nào. Nếu không có những mối tình theo motif anh hùng và mỹ nhân trong các tác phẩm văn chương, những sự kiện lịch sử chỉ là những sự kiện chết.
Các nhà văn nữ, nhìn lịch sử với cái nhìn từ bi phận hồng nhan. Đi vào lịch sử triều Nguyễn, các nhà văn nữ chú ý nhiều đến số phận của những người đàn bà bên ngai vàng, trong cung cấm, giữa vàng son lụa là và thoắt thoáng là trong thâm cung lạnh lẽo. Những cái chết mòn mỏi, những dải lụa “trẫm ban”, những cơn cô đơn điên loạn.
Từ cái nhìn của Trường An, “Những cuộc hôn nhân chính trị - tiếng là để mưu cầu lợi ích cho cả hai bên - nhưng thực sự chỉ là công cụ của kẻ mạnh hơn. Những kẻ yếu đuối dựa dẫm, những kẻ ít không ngoan và sáng suốt rất dễ dàng lọt vào cái bẫy này. Như vua Chiêm Thành, Chân Lạp đã lọt bẫy của các công nữ họ Nguyễn, như Hoàng tôn họ Nguyễn đã lọt bẫy bọn phản loạn, và bây giờ đến lượt vua Bắc Hà” (Thiên hạ chi vương). Như thế, liệu phụ nữ xuất thân hoàng tộc có hạnh phúc hơn phụ nữ thứ dân?
Với cái kết ấn tượng, truyện ngắn Lửa hoàng cung của Trần Thùy Mai đã khái quát khá rõ số phận của những người phụ nữ bị trói buộc bởi vương triều phong kiến. Trừ cô công chúa Quỳnh Thơ đã được đưa ra khỏi nhà ngục như một huyền thoại khi nghĩa quân nổi dậy trong Loạn chày vôi; “Còn sáu mươi tám nàng công chúa khác trong cung thì sách vở còn chép rõ về cuộc đời của họ. Có ba mươi nàng được gả cho những ông phò mã lọm khọm với tấm lưng dài cong gập trong chiếc áo the. Còn ba mươi tám nàng thì chết già trong cung, nhiều nàng chết lúc còn rất trẻ vì buồn chán những đêm nguyên tiêu lạnh”. Những con số liệt kê chỉ là cách để nhà văn tô đậm thêm bi kịch hồng nhan.
Ở nhiều truyện ngắn, từ điểm nhìn giới, Trần Thùy Mai đặc biệt quan tâm đến bi kịch của những người phụ nữ hữu danh lẫn vô danh bị lôi kéo vào những tranh chấp quyền lực, hay những cơn binh biến liên miên trong lịch sử Nguyễn triều (Thể Cúc, Nàng công chúa té giếng, Án lục về dâm nữ họ Tống). Đặc biệt, điều khiến Trần Thùy Mai “ghi điểm” nhất trong tiểu thuyết, chính là việc nhà văn đã dựng lên được một cách sống động, chân thực và hấp dẫn cuộc sống phía hậu cung, điều mà chính sử không ghi chép lại nhiều.
Trần Thùy Mai đã vén tấm rèm lấp lánh của cung đình, để soi rọi vào cuộc sống nơi tử cấm thành, tưởng như êm đềm với những cung tần mỹ nữ, những hoàng hậu, hoàng thái hậu chỉ biết chuyên tâm chuyện phấn son váy áo, nấu nướng thêu thùa, sinh con đẻ cái cho hoàng tộc mà hóa ra nhiều sóng gió hơn cả chốn triều chính ngoài cung điện. Những mưu mô kinh hoàng nơi hậu cung không chỉ tác động tới thân phận bao con người trong đó mà còn có thể làm chao đảo triều chính, dập vùi bao đại thần trung chính, tài năng; thậm chí có thể quyết định vận mệnh của muôn dân, của cả giang san, đất nước. Những nhân vật lịch sử bước từ chính sử vào tiểu thuyết một cách tự nhiên, nhuần nhị, được Trần Thùy Mai “nhuận sắc” khá tài tình. Nhân vật nào cũng mang thân phận.
Bi kịch hồng nhan là motif quen thuộc khi viết về lịch sử dưới tầm nhìn hiện đại. Trong tác phẩm của các nhà văn nữ, chân dung, cá tính, số phận, cuộc đời của các nhân vật nữ được hiện ra khá đa dạng. Lịch sử qua cái nhìn của nữ giới, gắn với số phận nữ giới cũng mang nhiều dáng vẻ, nhiều giả thuyết.
Trong số những nữ nhân triều Nguyễn, Ngọc Bình có lẽ là nhân vật được nhiều nhà văn quan tâm nhất, bởi thân phận đặc biệt của nàng khi vừa là người trong cuộc vừa là chứng nhân của bao xáo trộn lịch sử gắn liền với nhiều triều đại. Cũng viết về Ngọc Bình, trong truyện ngắn Công chúa Ngọc Bình, nhà văn Trần Thúc Hà không dùng một lời độc thoại, không đi vào những diễn biến tâm lí phức tạp, không lảy ra từ nội tâm Ngọc Bình - chứng nhân của những binh biến vương triều Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Có thể truyện ngắn vốn được quan niệm là một lát cắt nên nhà văn dẫu tái dựng cả cuộc đời Ngọc Bình cũng khó đi vào thế giới nội tâm.
So với Ngọc Bình trong truyện Trần Thúc Hà, hình tượng nàng công chúa nhà Lê có chồng là hai vua của hai triều đại, trong truyện ngắn và tiểu thuyết lịch sử của các nhà văn nữ, được khắc họa sâu sắc hơn về mặt nội tâm. Phải chăng, bằng những đồng cảm giới, các nhà văn nữ có những thuận lợi hơn trong việc nhìn thấu những nỗi niềm nữ giới, từ đó xót thương cho bi kịch hồng nhan của nàng.
Ngọc Bình trong sự hình dung của Trần Thùy Mai là một thiếu nữ tội nghiệp, mười sáu tuổi đã bị kéo ra khỏi làng quê yên bình, mặc áo thêu, đội mũ phượng ngồi bên mình ông vua trẻ mới hai mươi tuổi song không còn nhuệ khí của tuổi hai mươi bởi luôn bị ám ảnh bởi những lần thất trận hãi hùng và viễn cảnh rùng rợn của hồi chung cuộc. Ngay cả sau này thành đức Tam phi và được Nguyễn Ánh yêu chiều, Ngọc Bình vẫn luôn bị xem là một ngụy nữ, một công cụ để đáp ứng cái thống khoái của vị vua đầu triều Nguyễn, cái thống khoái như khi nhà vua khi đứng nhìn quân sĩ quật mộ ba vua nhà Tây Sơn, nhưng không chỉ một lần mà kéo dài, lần này sang lần khác, đáp ứng những khao khát báo thù sâu thẳm trong vô thức (Nàng công chúa té giếng).
Trong tiểu thuyết của Trường An, Ngọc Bình được soi chiếu từ nhiều điểm nhìn. Trong những đàm tiếu, dị nghị của dân tình, số phận của nàng có thể cũng không hơn Lý Chiêu Hoàng, bởi “thời đại loạn ly này, đã là phận hồng nhan, lại sinh ra trong hoàng tộc thì đúng là viên ngọc rơi vào vũng lầy mà thôi”. Có thể nói, với tiểu thuyết Vũ tịch, Trường An đã dựng lại chân dung Ngọc Bình từ nhiều điểm nhìn. Có cái nhìn cá nhân, có cái nhìn tập thể; có cái nhìn của đàn bà, có cái nhìn của đàn ông, có cái nhìn xuất phát từ yêu thương, có cái nhìn từ lòng nghi kị… Song, từ bất kì một góc nhìn nào, những bi ai trong thân phận của nàng cũng luôn được thể hiện rõ qua tên gọi, qua dáng hình, hay qua cả nội tâm sâu thẳm. Dường như toàn bộ những bi kịch hồng nhan triều Nguyễn đều đã được dồn tụ ở số phận cô công chúa “con vua lại lấy hai chồng làm vua” này, qua cái nhìn của các nhà văn nữ.
***
Chọn viết về triều Nguyễn, các nhà văn nữ đã từ góc nhìn giới để nhận diện một giai đoạn lịch sử gắn liền với quyền lực đàn bà; với những nỗi đau phụ nữ bất chấp địa vị ngôi cao - một lịch sử của những thăng trầm, trả giá bởi những tranh đoạt, đánh đổi vì tham vọng, vì tình yêu của những người đàn bà không yên phận. Đó còn là lịch sử của những nữ nhân vô danh, những thân phận cung nữ bé mọn chết oan ức hay vùi chôn tuổi xuân trong cung cấm. “Đàn bà trong chiến loạn phận mỏng còn hơn cỏ…” (Nguyễn Thị Kim Hòa). Một lịch sử đang sống chứ không phải đã sống hiện ra sinh động trên trang viết của các nhà văn nữ. Một thế giới đàn bà với những can dự đáng kể vào số phận của lịch sử được tái hiện rực rỡ, bất chấp những tủi hổ, sầu muộn, đắng cay. Thay vì đặt trọng tâm vào các bối cảnh, sự kiện lớn, các nhà văn nữ có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến cuộc sống đời thường, đến các biểu hiện cảm tính của vĩ nhân trước bối cảnh, sự kiện lịch sử ấy. Phải chăng vì vậy mà đặt bên cạnh các nhà văn nam, các nhà văn nữ đã tạo được những dấu ấn riêng, khác ở mảng đề tài văn học lịch sử, trong đó có lịch sử triều Nguyễn. Đã có một lịch sử triều Nguyễn thật đặc biệt qua trang viết của các nhà văn nữ - một lịch sử của những bi phận hồng nhan, một lịch sử đã được hư cấu và luận giải, đối thoại lại từ điểm nhìn của nữ giới.
|
“Nếu như coi lịch sử là một hình hài thì hình hài ấy chính là con người. Nhà văn có thể nhìn vào mắt của lịch sử để viết về những u ẩn hay sự hân hoan của nó. Có thể nhìn vào bàn tay của lịch sử để viết về sự nâng đỡ nhân ái hay sự xuống tay tàn khốc, đẫm máu mà nó nhắm vào đồng loại. Rồi có thể nhìn vào từng bước chân lịch sử để cảnh báo cho số phận con người đương đại hoặc dự báo cho số phận dân tộc mình. Tôi nghĩ viết về lịch sử là để giải phóng cho sự bế tắc hôm nay chứ không phải để biến lịch sử thành con rối” – Nguyễn Bình Phương |
|
“Triều Nguyễn, triều đại cuối cùng trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, kéo dài 143 năm (bắt đầu từ năm 1802 và kết thúc năm 1945) đã không thôi khuấy động các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, phong tục và văn học. Đây là thời đoạn bản lề còn nhiều góc khuất, nhiều nghi vấn, những chứng nhân lịch sử vẫn còn, di tích lịch sử qua bao suy vong vẫn còn in dấu. Đây chính là mảnh đất phức tạp không dễ khai thác. Đặc biệt, trong các vương triều Nguyễn, giai đoạn nội chiến Tây Sơn - Nguyễn Ánh vẫn còn là sự kiện nhiều tranh cãi, cần đối thoại. |

Cô giáo, nhà thơ, nhà văn Bùi Thị Biên Linh, nguyên giáo viên trường THPT Phước Bình, thị xã Phước Long, Tỉnh Bình Phước....
Bình luận