Tâm bút qua 35 tập “Nỗi đau sau chiến tranh"   

Cả bộ sách 35 tập "Nỗi đau sau chiến tranh" chúng tôi đã xuất bản, mỗi tập từ 650 trang đến 1000 trang và nước mắt cũng tràn qua mỗi trang viết. Đó là hậu quả của cuộc chiến tranh do người Mỹ xâm lược Việt Nam gây nên. Không nỗi đau nào đau hơn, không mất mát nào lớn hơn nỗi đau và mất mát của thời hậu chiến. Con mất cha, vợ mất chồng, trẻ thơ “tàng hình” trong nỗi đau quằn quại thấm đẫm dòng máu da cam - dioxin. Hơn năm mươi năm rồi, vết thương mảnh đạn đã liền da, không còn chảy máu, nhưng vết thương “da cam” vẫn chảy máu trong lòng, chảy qua đời này sang đời khác… 

Đây là bức thông điệp chúng tôi muốn gửi lại cho người Việt Nam hôm nay và mai sau biết được có một thời hậu quả cuộc chiến tranh tàn khốc như thế nào. Có một thời người Việt đã phải gồng mình vượt lên nỗi đau để sống như thế nào. Hy vọng bức thông điệp sẽ đến với nhân dân trên thế giới biết được để ngăn chặn và đừng bao giờ thực hiện cuộc chiến tranh hóa học như người Mỹ đã thực hiện ở Việt Nam. Để bạn đọc cùng các nhà nghiên cứu chiến tranh có điều kiện am hiểu và chia sẻ những mất mát, đau thương mà nhân dân Việt Nam đang phải gánh chịu trong hòa bình để cùng lên tiếng ủng hộ các nạn nhân chiến tranh. 

Tâm bút qua 35 tập “Nỗi đau sau chiến tranh"    - 1

Bộ sách 35 tập "Nỗi đau sau chiến tranh"

*

Đề tài hậu chiến tranh ra đời từ sau cuộc chiến tranh Việt Nam khép lại. Một cuộc chiến tranh khác không đổ máu, nhưng vết thương lại xót đau vô cùng. Hơn 4,8 triệu người bị nhiễm chất độc da cam - dioxin, gần 35 vạn trẻ em sống trong quằn quại đau đớn truyền lại từ đời ông cha đến đời con cháu phải gồng mình cam chịu một loại vết thương không có mảnh đạn; hàng vạn em bé mất đi hơi thở, tiếng khóc, vĩnh viễn không còn tồn tại trên cõi đời. Hàng triệu thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ mang nặng nỗi niềm gian khó, cô đơn.

Từ những nỗi đau này thôi thúc lương tâm đồng loại, thôi thúc những người làm chính sách vào cuộc nâng đỡ, cứu giúp các nạn nhân chiến tranh, suốt nửa thế kỷ qua. Trong đó có những người cầm bút. Các cơ quan báo chí, cơ quan văn học nghệ thuật, cùng các nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước luôn dành những tình cảm hướng tâm bút sáng tác về hậu quả của cuộc chiến tranh do quân đội Mỹ xâm lược gây nên tại Việt Nam. 

Để tiếp tục nối tiếp dòng văn học hậu chiến, cách đây 6 năm, được sự bảo trợ, giúp đỡ của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, Bảo tàng tác phẩm Hậu chiến tranh - Minh Chuyên cùng Câu lạc bộ Thơ Lục bát tỉnh Thái Bình đã phối hợp phát động phong trào sáng tác văn học thiện nguyện viết về đề tài nỗi đau thời hậu chiến nhằm bổ sung chiến tích của cuộc chiến tranh, trước hết lưu giữ tại các bảo tàng chiến tranh cách mạng cùng hệ thống thư viện, truyền lại cho mai sau.

Hình như nỗi đau của con người, cùng nỗi đau của người lính thời hậu chiến đã chạm tới trái tim của người cầm bút. Các văn nghệ sĩ cùng những người yêu văn chương nghệ thuật, động lòng trắc ẩn về những phận người sau cuộc chiến tranh, ngày đêm trải tình thương lên trang giấy, sáng tạo đa dạng các loại hình nghệ thuật thơ ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, kịch bản văn học để bộ sách Nỗi đau sau chiến tranh ngày một dày thêm.

Hàng ngàn tác phẩm văn học có mặt trong bộ sách 35 tập Nỗi đau sau chiến tranh là hàng ngàn tiếng lòng xót thương trút ra từ ngòi bút, tạc nên hình tượng văn học, hình tượng những phận người cụ thể đang sống khắc khoải nơi cuộc đời quanh ta. Bộ sách phải chăng là bức thông điệp lịch sử gửi cho mai sau, để biết có một thời cha ông dấn thân, đổ máu, hy sinh cho những ngày đất nước bình yên hôm nay. 

Do thời gian hạn hẹp chúng tôi chỉ lướt qua một số tác giả mang tính đại diện có tác phẩm trong một số tập sách. Mở đầu tập 1, tác giả anh thương binh Đỗ Tiếp viết Lời ru anh trong đêm trở gió: “Ngủ đi nào những tái tê/ Nỗi đau trần thế gọi về hư không”.

Nỗi đau cả trăm bài thơ ngân lên xa xót kéo dài suốt 35 tập. Nhiều bài thơ thể hiện sự tài hoa, giàu hình tượng ngôn từ đọc khó có thể quên. Tác giả Lương Hữu có Tháng bảy anh về, nhà thơ Ánh Tuyết Hát với mười cô, Trần Thanh Loan có Bông hoa Đồng Lộc, Vũ Minh Hiến có Trí dũng song toàn, Nguyễn Ngọc Hùng trong bài thơ Em hóa đá đợi anh viết: “Nơi đây hóa đá em tìm/ Bóng anh khuất lặng im lìm trời Nam”. 

Tập 18 và 19, các cây bút dành nhiều trang thơ ngợi ca phẩm chất anh hùng và những cống hiến hy sinh của người lính trận. Phần thơ có Nguyễn Thị Thu với Mùa hoa cải ven sông, Đỗ Lâm Hà với Bằng lăng tím, Hồ Bá Thâm với Nửa chừng câu hát vầng trăng, Ngân Hậu với Nỗi đau không chỉ anh, Đoàn Thịnh với Người thương binh hỏng mắt, Phan Đức Chính với Nằm lại với con đường, Nguyễn Hữu Bản với Cánh võng Trường Sơn, Nguyễn Văn Á với Thạch Hãn chiều nay. Tác giả Triệu Miện có Mẹ ơi!, Kim Quốc Hoa góp mặt trường ca Cửa thép Trường Sơn... 

Tác giả Phạm Ngoan có 4 câu thật xúc động: 

“Tin về chỉ thấy mong manh

Bầu trời mây trắng nhuốm vành khăn tang

Cái riêng chỉ thiếp với chàng

Dấu trong thầm kín đa đoan nỗi đời”

Các nhà văn, nhà thơ Mỹ, nhiều người từng tham chiến trong cuộc chiến tranh tại miền Nam Việt Nam những năm 1965 - 1968 như Kevin Bowen, Gary Nhitel, Brian Mooney, Molly Watt, Preston Wood... có nhiều tác phẩm tham gia trong bộ sách. Nhà thơ Wislawa Szymborska người Ba Lan từng đoạt giải Nobel về văn học cũng có tác phẩm in trong tập Nỗi đau sau chiến tranh. 

Điều đó đã nói lên, đề tài hậu chiến tranh Việt Nam có sức lan tỏa, cuốn hút không chỉ với các nhà văn trong nước, mà các nhà văn nhà thơ trên thế giới cũng hết sức quan tâm. 

Những sáng tác văn xuôi, mỗi tập một tiếng nói, một vẻ đẹp riêng, ẩn chứa tình người trong từng trang viết. Các tập nối tiếp phần văn xuôi, trong số tác phẩm tiêu biểu có các truyện ngắn Sinh vào đêm trăng sáng của nhà văn Trần Văn Thước, Thăm thẳm bóng người truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Đức Hạnh. Nhà văn Đắc Trung có truyện Những người bị lãng quên, nhà văn Lê Thị Bích Hồng có Chuyện về chiếc Ăng Gô, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ có kịch hát Ngàn năm mây trắng.

Phần thơ trong tập 10 hội tụ nhiều thi phẩm hay với lối viết mới lạ. Tác giả Phạm Luyến với Vọng phu bến không chồng, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có trường ca Những người lính của làng, nhà thơ Kim Chuông: Về một người mẹ, Một người con và dòng sông Trà Lý, nhà thơ Trần Đăng Khoa: Ngày mai ra trận, Vũ Thanh Hoa: Nỗi đau sau chiến tranh, Bùi Quảng Bạ: Người đi tìm di họa chiến tranh, Hoàng Yến: Xin anh báo mộng em tìm, Vũ Bá Lễ: Cánh cò chất nặng da cam, Nguyễn Đức Mậu: Người ngồi trước mộ mình, Nguyễn Thọ Trúc: Ngõ xưa, nhà thơ Vương Trọng: Khúc tưởng niệm liệt sĩ, Trần Nhuệ: Nàng Tô Thị không con, nhà thơ Trần Nhương với trường ca Người làm ra cổ tích…

Văn xuôi trong 35 tập sách Nỗi đau sau chiến tranh là phần chủ lực đã tạc nên những hình tượng nhân vật khá tiêu biểu qua những câu chuyện đầy tính nhân bản được các tác giả thể hiện dưới bút pháp: Truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện ký, ghi chép, bút ký, kịch bản văn học, kịch hát... Những câu chuyện tình trong chiến tranh, chuyện người lính quên mình nơi trận mạc, chuyện về mẹ đợi con, chờ chồng, chuyện những cô gái Trường Sơn, hòa bình về nương bóng nơi cửa Phật, với nhiều tình tiết ly kỳ hấp dẫn cuốn hút bạn đọc.

Tập 17 đến 19, nhà văn Lê Hải Triều có tiểu thuyết Di họa kép, Thái Bá Lợi có truyện ngắn Cánh rừng phía ấy, tác giả Vũ Hồng Thái có Về nơi đất thiêng, Phạm Minh Giang có Người ngâm Kiều trước hai trận đánh… 

Tập 21 đến 23 một số tác giả truyện ngắn, tiểu thuyết viết đầy tâm trạng, buồn, vui. Tác giả Nguyễn Nhân Tỏ có Kể chuyện thời chiến tranh, nhà văn Võ Minh Cư đóng góp hai tiểu thuyết Đa đoan nỗi đời và Mối tình đời tư. Tác giả Dương Thiên Lý có tiểu thuyết Người trên đảo vắng.

Tập 24 đến 25, dòng văn xuôi thiên về những ký ức thời chiến tranh. Tác giả Nguyễn Duy Việt có bút ký Hlem em đang ở đâu, tác giả Vương Tiến Hòa có Nhớ về em người lính, tác giả Bùi Minh Tiến có Chuyện anh tôi, Hoàng Lam có Bốn mươi năm viết nhật ký chờ chồng... 

Nhiều tác phẩm in trong bộ sách chất lượng tốt. Tác giả Minh Chuyên có 3 tác phẩm được sử dụng trong sách giáo khoa phổ thông trung học và tiểu học thì 2 tác phẩm có mặt trong bộ sách Nỗi đau sau chiến tranh.

*

Gần một nghìn tác phẩm văn xuôi, truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết, truyện ký, kịch bản văn học và thơ ca có mặt trong bộ sách từ tập 26 đến tập 35, vẫn tập trung miêu tả thân phận con người thời hậu chiến. Ngày ngày họ đang phải gồng mình đối mặt với thần chết. Đối mặt với hậu họa do cuộc chiến tranh người Mỹ dã tâm gây nên trên đất nước Việt Nam từ những năm 1960 đến 1975. 

Mở đầu phần văn xuôi tập 26 nhà văn Minh Chuyên đóng góp trên 100 trang. Ngoài truyện Linh hồn Da cam mô tả cái chết của mười em bé không được làm người, tác giả tập trung tái hiện nỗi đau và hành động của những cựu binh Mỹ từng gây tội ác ở chiến trường Tây Nguyên qua hai tác phẩm truyện ký.

Truyện Nếu tôi giết Paud Recr và truyện Ám ảnh Homer, đây là truyện về những chiến binh Mỹ đi xâm lược, nhiều năm có mặt ở chiến trường miền Nam Việt Nam. Khi nhận ra sai lầm của cuộc chiến tranh họ đã đảo ngũ. Họ trăn trở vì nỗi ám ảnh gây tội ác cho nhân dân Việt Nam. Paud Recr quay lại Việt Nam làm việc thiện, trả ơn người lính Việt Cộng đã cứu sống mình. Còn Homer suốt 39 năm dằn vặt vì đã gây tội ác bắn chết người. Cuối cùng ông ta đã sang Việt Nam về tận quê hương Thái Bình giải oan cho một anh bộ đội có tên là Hoàng Ngọc Đảm bị chính Homer bắn chết, đang bị nghi oan là đi theo Mỹ. Homer cùng gia đình Hoàng Ngọc Đảm vào tận Tây Nguyên tìm hài cốt anh Đảm. Homer chứng minh hành động của Hoàng Ngọc Đảm là người anh hùng chứ không phải là kẻ phản bội Tổ quốc.

Tiếp phần văn xuôi là truyện ký Cha con lính trận của nhà văn Trần Khởi. Câu chuyện kể về một thời dũng cảm chiến đấu của hai người lính trong một gia đình cha và con. Tác giả Trần Khởi với phương pháp miêu tả trực diện kết hợp ngôn ngữ trong sáng làm nổi bật các nhân vật chính trong Cha con lính trận. Bản thân nhà văn Trần Khởi xuất phát từng là người lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nên truyện anh viết sâu sắc, chân thật và cảm động.

Tiếp theo có các tác phẩm Làm vợ thương binh của Vũ Ngọc Thư, tác giả Nguyễn Duy Việt đóng góp hai tác phẩm Chuyện của lính và Lần đầu ra trận. Nhà văn Phạm Minh Giang có Chuyến tàu định mệnh, tác giả Bùi Minh Tiến: Nhớ người liệt sĩ và tác giả GS Vương Tiến Hòa với câu chuyện Tình yêu cuộc sống”… Hầu hết các tác giả viết có nghề, đọc cảm động khó quên.

Phần thơ tập 26 xuất hiện 115 bài của 71 tác giả là những vần thơ thấm đẫm nỗi đau, nhưng không bi lụy.

Tập 27, âm thanh tâm bút vẫn ngân lên khúc ca ai oán của một thời. Nỗi đau rung động từ ngòi bút của hàng trăm con tim. Văn xuôi nổi bật có Tận cùng khổ đau và Nỗi oan trần thế của nhà văn Minh Chuyên, Nam hành ký sự của nhà văn Bùi Quang Thanh, Mối tình của mẹ của tác giả Nguyễn Duy Tường, Chuyện cô Xuyến và Đợi chờ của tác giả Thái  Bá Tân, Đồng đội và Chiếc ba lô người lính của nhà văn Phạm Minh Giang, Vị tướng đất Vị Xuyên của tác giả Hoàng Phương, Giọt nước mắt màu xanh của tác giả Lê Huyền Ái Mỹ, Kỳ tích Trần Bình của nhà văn Cao Bá Khoát và tác phẩm Nhớ người thương binh của nhà văn Nguyễn Kim Rần… cùng 125 thi phẩm thơ ca của 78 tác giả. 

Tập 28 Nỗi đau sau chiến tranh tập hợp gần 100 tác giả văn xuôi và thơ. Các ngòi bút vẫn tập trung miêu tả thân phận con người thời hậu chiến. Bằng phương pháp tả thực kết hợp hồi tưởng, nhiều tác phẩm không chỉ thể hiện sâu lắng về nội dung mà biểu cảm nghệ thuật trong tác phẩm cũng rất tinh tế. Phần thơ, mỗi tác giả góp vào tập sách từ 3 đến 5 bài, thi phẩm nào cũng cảm xúc.

Tập 29 gồm hàng trăm truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết và thơ ca. Nhiều tác phẩm phác thảo chân dung những con người quả cảm, vượt lên cõi chết, trở thành hình tượng đẹp trong văn chương. Không ít những trang văn, những vần thơ đi vào lòng người, đọc cảm động.

Tập 30 xuất hiện 76 tác giả cùng một tâm bút, cùng một nỗi đau, vừa ngợi ca chí khí anh hùng, vừa chia sẻ nỗi niềm thân phận. Một số tác giả, tác phẩm nổi bật cả hình thái tái hiện nội dung, cả phương thức diễn trình nghệ thuật, tiêu biểu như tác phẩm Rừng thiêng tiểu thuyết của nhà văn Hoàng Thái Sinh. Tiếp theo là nhà văn Lê Thị Bích Hồng với tác phẩm Đồng Vọng và Tri âm bằng cách nhìn thấu cảm của một nhà lý luận văn học, phân tích, dẫn chuyện Nguyễn Công Nghiệp viết Cây bút thời hậu chiến.

Các tác giả Kim Quốc Hoa, Minh Chuyên, Cao Bá Khoát, Nguyễn Công Liêm, Phạm Minh Giang đóng góp trong tập sách mỗi người từ 1 đến 5 câu chuyện, cùng một chủ thể về thảm họa da cam, làm tâm hồn nỗi đau trong tập 30 càng đau hơn, da diết hơn. Phần thơ gồm hơn 90 thi phẩm thể hiện dưới nhiều hình thức.

Tập 31 cùng chủ thể những cơn đau thời hậu chiến, 62 tác giả thơ dâng tặng gần 100 thi phẩm vừa xa xót, vừa bâng khuâng. Cái hay của từng bài thơ gộp lại thành vẻ đẹp thiêng liêng của tập sách. Không ít thi phẩm, hồn thơ làm xao động lòng người. 

Phần văn xuôi nổi bật trong tập 31 là trích đoạn tiểu thuyết Thua cuộc đời tư của nhà văn Võ Minh Cư. Các nhân vật trong tiểu thuyết của Võ Minh Cư được xây dựng kỳ công. Họ là nhân chứng của một thời, phải trả giá cả một đời. Qua tác phẩm bạn đọc nhận biết nhà văn Võ Minh Cư là một người từng trải mới lập nên những áng văn chương chân thật mà da diết. Tiếp theo là phần trích tiểu thuyết Nỗi đau thế kỷ của nhà văn Hoàng Thái Sinh. Một nhà văn đau đáu cả cuộc đời, theo đuổi đề tài hậu quả chiến tranh như một nghĩa cử.

Bên cạnh đó là truyện Phận người da cam của Minh Chuyên miêu tả nhân tính một người Mỹ là Horlasad trước sự hối nhớ về tội ác của mình trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Tập 31 còn có truyện ngắn của các tác giả Lữ Giang, Phạm Hữu Nam và Phong Lan.

Tập 32 mở đầu là phần trích tiểu thuyết Chinh chiến của nhà văn Võ Minh Cư, tác giả có tiểu thuyết Thua cuộc đời tư hiện diện trong tập 31. Võ Minh Cư một nhà văn dành cho bộ sách Nỗi đau sau chiến tranh rất nhiều tâm huyết bằng những trang văn đa đoan, xúc động. Tiếp theo là truyện Ký ức chiến trường xưa và bút ký Lưu dấu cuộc đời của nhà văn Minh Chuyên, Kỷ niệm đời bộ đội của tác giả Tống Mỹ Phong, Trận đánh cuối cùng của Đoàn Viết Doãn…

Phần thơ xuất hiện nhiều tác giả có lối viết mới hình tượng, ngôn từ gợi mở, câu thơ trong sáng, hồn thơ bay xa, lan tỏa. Các tác giả Nguyễn Bá Bình Hát cho người ở lại, Nguyễn Văn Cư Đồng đội ơi chúng tôi không quên, Vũ Bình Lục Ru con thời tóc bạc, Ái Nhân Mộng du tình mẹ, Nguyễn Thọ Trúc Món nợ hôm nay. Thơ sưu tầm có Người lính già không khóc…

Tập 33 Nỗi đau sau chiến tranh, phần văn xuôi giới thiệu tiểu thuyết về dioxin mang tựa đề Hồ đồ của nhà văn quân đội Phùng Văn Khai. Anh là cây bút tâm huyết và có nghề. Những trang văn trong tiểu thuyết Hồ đồ của Phùng Văn Khai đã chạm đến một hiện thực khốc liệt thời hậu chiến, với bao số phận con người được hóa giải. Tính nhân bản của tác giả trong tiểu thuyết Hồ đồ không muốn xoáy thêm vào nỗi đau con người. Văn chương Phùng Văn Khai trong Hồ đồ sâu lắng, uyển chuyển, đọc cuốn hút, dễ vào lòng người.

Phần trích tiểu thuyết Khoảng lặng trong chiến tranh của nhà văn Trần Soạn với ngôn ngữ văn chương trong sáng, mạnh mẽ. Trần Soạn là một trong những tác giả tiêu biểu thể hiện thành công về miêu tả thân phận con người sống cùng nỗi đau của một thời.

Phần thơ tập này không nhiều nhưng phương pháp sáng tác thơ khá linh hoạt. Tứ thơ và nỗi niềm người viết luôn trăn trở, day dứt khôn nguôi. Hồn thơ luôn đau đáu khắc khoải. Trăn trở, khắc khoải vì nỗi đau của đồng loại.

Những chùm thơ mang hình bóng đó của các tác giả: Kim Thúy Dòng sông chở đầy hoa, Lê Thị Nhìn Nghĩa trang không bia mộ, Tạ Mạc Thư gửi liệt sĩ. Văn Lê Nỗi lòng người ở lại, Phạm Ngoan Hỡi đồng đội ơi, Nguyễn Phú Tiếng lòng của lính. Vũ Quốc Hưng với một chùm 7 bài Con mãi về bên mẹ, Nguyễn Văn Cư Bài ca đất nước, Phạm Bá Hà đóng góp 8 thi phẩm Chỉ là mơ thôi, Nguyễn Văn Hợi Sắc lính Trường Sơn, Hồ Hải Lâm có Viếng bạn và Anh chiến sĩ vô danh, tác giả Ngọc Mai trong thi phẩm Anh có nghe.

Tập 34, các tác giả văn thơ tiếp tục mở ra những trang đời, những phận người ngơ ngác, xót thương. Mở đầu là trích tiểu thuyết Khoảng lặng trong chiến tranh phần tiếp theo của nhà văn Trần Soạn. Bằng nghệ thuật ảo tưởng, thực hư đan xen dòng văn chính luận, tác giả Trần Soạn đã khắc họa rõ nét chân dung những con người trung dũng, quả cảm, vượt lên muôn khó trong chiến tranh. Phải chăng chính họ là những “khoảng lặng”, những ước mơ, khát vọng muốn vươn tới sự bình yên?

Sau đó là những bút ký đặc sắc của nhà văn Phùng Văn Khai với tựa đề Những liệt sĩ thời bình. Cứ tưởng trong chiến tranh mới có nhiều liệt sĩ hy sinh nơi trận mạc nhưng thời bình cũng nhiều chiến sĩ quả cảm hy sinh vì nhiệm vụ. Những hy sinh mất mát trong cuộc sống đa dạng của hòa bình được nhà văn Phùng Văn Khai chọn lọc viết thành những bút ký hấp dẫn khó quên như Tìm trong hang đá, Người Hà Nội ở Trường Sa; Sáng mãi điểm tựa La Lăng, Lẽ sống của anh, Những liệt sĩ thời bình…

Phần thơ tập 34 chọn lọc gần 100 thi phẩm của 65 tác giả. Bằng lối viết cảm và nhận chân thành, ngôn ngữ thơ vừa ảo, vừa thực, các tác giả đã tạo nên không ít những vần thơ hay xao xuyến. Nỗi đau và nụ cười thấm đẫm hồn thơ da diết. 

Tập 35 hội tụ hơn 100 tác phẩm của 76 tác giả hòa thành bản hùng ca bi tráng. Bản hùng ca ngân lên da diết, không chỉ văng vẳng tiếng khóc than kêu cứu mà có lẫn cả âm thanh nụ cười. Tiếng khóc của những phận người hai ba thế hệ tột cùng nỗi đau. Nụ cười của những nghị lực vươn lên chiến thắng số phận hòa nhập với cuộc sống. Tất cả hiện lên dưới ngòi bút ân tình, đáp nghĩa, ghi ơn những người đã quên thân đem lại cuộc sống bình yên hôm nay.

Khoảng lặng trong chiến tranh phần tiếp theo tiểu thuyết của nhà văn Trần Soạn trong tập sách đã nói lên điều đó. Một cuốn tiểu thuyết hay, Trần Soạn có những ý tưởng độc đáo về cách nhìn con người trong khoảng lặng của chiến tranh.

Tiếp theo phần văn xuôi tập 35 là 15 truyện ngắn, truyện ký của nhà văn Minh Chuyên - người cả đời chỉ hướng tâm bút vào những mảnh đời bất hạnh thời hậu chiến. Những truyện tiêu biểu ông dành cho tập sách gồm: Hành trình làm liệt sĩ, Người chém giặc, Địa ngục Trần gian, Khi sa vào tay giặc, Người liệt sĩ có nửa linh hồn, Quãng đời huyền thoại, Người kéo cờ, Phẩm chất Trần y, Nửa đời người lưu lạc, Lá huyết thư, Người đi theo chúa, Danh trường thọ, Chuyện người cộng sản, Trước linh hồn nhạc phụ, Người hai lần báo tử…

Mỗi truyện của Minh Chuyên đặt một dấu chấm hỏi, một nỗi niềm suy tư da diết. Những con người quặn mình dưới đáy cùng của nỗi đau, khi linh hồn chỉ còn một nửa. Khi đã hai lần báo tử vẫn chưa được nhận danh phận của mình. Bao giờ mới hết nỗi đau? Trách nhiệm của những người đang hưởng lộc hòa bình, phải nghĩ gì, phải hành động sao đây cho số kiếp con người sau chiến tranh được giải thoát.

Có được thành tựu bước đầu qua 35 tập sách văn thơ là nhờ công lao của các tác giả, các nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước, ban vận động, ban tổ chức, đặc biệt là các trưởng ban biên tập của bộ sách (Nguyễn Tuynh, Triệu Miên) đã bền bỉ làm việc hết mình vì nền văn học hậu chiến.

Như chúng tôi đã nhấn mạnh, bộ sách Nỗi đau sau chiến tranh là tiếng lòng tri ân của những người cầm bút đối với các anh hùng liệt sĩ, người có công đã dâng hiến cả cuộc đời cho Tổ quốc, cho nhân dân. Bộ sách là bức thông điệp lịch sử gửi cho mai sau, gửi cho những thế hệ đang sống trong hòa bình, biết được mình đang sống trên máu xương của những người đã vì Tổ quốc mà quên thân…

Những người cầm bút chúng tôi, tiếp tục lao động sáng tạo, hướng tâm bút vào dòng văn chương 15 tập tiếp theo, để ra trọn bộ 50 tập sách Nỗi đau sau chiến tranh dâng tặng cuộc đời, dâng tặng hương hồn các anh hùng liệt sĩ.

Minh Chuyên

Tin liên quan

Tin mới nhất

Kết quả thi đấu UEFA Nations League 2026/27 mới nhất

Kết quả thi đấu UEFA Nations League 2026/27 mới nhất

Kết quả Nations League 2026/27 cập nhật diễn biến từng lượt trận, từ vòng bảng đến các trận play-off và vòng chung kết, giúp người hâm mộ nhanh chóng nắm được đội thắng, đội thua và cuộc đua thăng hạng.