Văn học, nghệ thuật và sứ mệnh phục vụ cách mạng
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã lấy điểm tựa văn hoá vững chắc để xây dựng nền độc lập: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Nguyễn Trãi). Truyền thống ấy được kế thừa, phát huy và nâng cao ở thời đại Hồ Chí Minh.
Văn hoá soi đường cho quốc dân đi
Đánh giá cao vai trò của văn hóa, ngay từ năm 1943, Đảng ta đã xây dựng Đề cương về văn hoá Việt Nam với 3 nguyên tắc trụ cột: Dân tộc hóa - Đại chúng hóa - Khoa học hóa, mang tầm chiến lược một cương lĩnh hướng về tương lai. Ngay sau ngày Độc lập, ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Bác Hồ nêu 6 nhiệm vụ cấp bách: chống giặc đói; chống giặc dốt; tổ chức tổng tuyển cử; thực hiện cần, kiệm, liêm, chính; bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, cấm thuốc phiện; thực hiện tự do tín ngưỡng. Đầu thế kỷ XXI, từ điểm nhìn “Quyền con người”, nhiều nghiên cứu trên thế giới về Việt Nam khâm phục, trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Hồ Chí Minh vẫn chú ý hai nhiệm vụ diệt giặc đói, diệt giặc dốt. Đó là cách giải quyết vì con người nhất, mang tính văn hoá cao nhất. Dân đói, dân dốt là nỗi bất hạnh của bất cứ quốc gia nào và ngược lại. Chỉ những trí thức lớn như Bác Hồ mới sâu đậm một tinh thần nhân văn cao cả, một tầm trí tuệ hiếm thấy trên cơ sở một tình yêu nước, yêu dân, vì dân và đặc biệt coi trọng tri thức. Bác Hồ và Đảng ta vĩ đại không chỉ đã kiến tạo một chính thể dân chủ mới, còn ở việc kiến tạo một nền mỹ học mới: nền mỹ học dân chủ, hạnh phúc, vì dân.
Nếu ở Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (11/1946) khẩu hiệu “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” của Bác Hồ chính thức được thực hiện, thì tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (7/1948), khẩu hiệu “Kháng chiến hóa văn hóa. Văn hóa hóa kháng chiến” được quán triệt. Trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951, Bác khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Đi suốt hai cuộc kháng chiến vĩ đại và sự nghiệp Đổi mới với những thành tựu đặc biệt, văn hoá Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ Bác nêu: “Nhiệm vụ của văn hóa chẳng những để cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của quốc dân, mà cũng phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới. Các nhà văn hóa ta phải có những tác phẩm xứng đáng, chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ, mà còn để lưu truyền cái lịch sử oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho hậu thế”.
Sau cuộc gặp gỡ thân tình cởi mở giữa đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với gần 100 văn nghệ sĩ (6-7/10/1987), ngày 28/11/1987 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 05 về Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới như một làn gió mới, một ánh sáng mới hướng văn học vào quỹ đạo của sự phát triển. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Nghị quyết đánh giá chất lượng văn nghệ từ sau 1975 “nói chung còn thấp, tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị nói chung còn ít”. Nghị quyết khẳng định với giá trị văn hóa có tác dụng lâu dài, bền vững, văn nghệ là món ăn tinh thần không thể thiếu của con người. Như vậy Đảng đã rất đề cao mục tiêu, vai trò, nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cũng như đặc trưng của văn học nghệ thuật.

Ảnh minh họa
Quan điểm đúng đắn: Văn hoá là nền tảng, là mục tiêu, là sức mạnh nội sinh
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Quan điểm này không chỉ phù hợp với thời toàn cầu hoá văn hoá của thế giới, còn là sự đề cao, lấy giá trị văn hoá làm nền tảng, là sức mạnh nội sinh quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Cũng hoàn toàn phù hợp với triết học về con người của thế giới đương đại lấy con người làm trung tâm, coi con người là chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất để bảo đảm sự phát triển hài hòa, bền vững. Trong bài phát biểu chỉ đạo Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ ba (11/2021), đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Văn hóa còn thì dân tộc còn”. Đảng đã đánh giá cao sự đóng góp của văn học-nghệ thuật Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, đã “Xứng đáng đứng vào vị trí tiên phong của nền văn hóa văn nghệ chống đế quốc, phong kiến trên phạm vi toàn thế giới”. Sau Hội nghị, những chủ trương, chính sách văn hóa lớn đã đi vào thực tiễn, kết nhiều trái thơm văn hoá toả hương nhân văn ra cả thế giới. Tại Lễ kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành văn hóa (28/8/1945 – 28/8/2025), Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh vai trò văn hóa định hình hệ giá trị quốc gia.
Làm theo và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, văn học nghệ thuật, Đảng ta coi sự phát triển văn hóa ngang hàng với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Các quan điểm, ý kiến chỉ đạo của Đảng được cụ thể hoá trở thành điểm tựa sáng tạo, là niềm cổ vũ, thúc đẩy, khuyến khích sáng tạo. Quốc hội, Chính phủ đã tiến hành sửa đổi, bổ sung, thông qua nhiều luật quan trọng như Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh...; thông qua quyết định chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035. Tổng nguồn vốn thực hiện giai đoạn 2025-2030, hướng tới 9 dự án thành phần chiến lược, về phát triển con người, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, bảo tồn di sản, thúc đẩy văn học-nghệ thuật, phát triển công nghiệp văn hóa, đẩy mạnh chuyển đổi số… Từ ngày 15/02/2026, Nghị định số 350/2025/NĐ-CP quy định về khuyến khích phát triển văn học sẽ chính thức có hiệu lực, thể hiện ở: Hỗ trợ phát triển văn học; tổ chức trại viết, trại sáng tác văn học; cuộc thi viết, cuộc thi sáng tác tác phẩm văn học; giải thưởng văn học; giới thiệu, quảng bá, phổ biến văn học trong nước và ngoài nước.
Văn hoá “vươn mình” vào kỷ nguyên mới
Chính phủ vừa mới phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với 10 ngành: Điện ảnh; Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Nghệ thuật biểu diễn; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Quảng cáo; Thủ công mỹ nghệ; Du lịch văn hóa; Thiết kế sáng tạo; Truyền hình và phát thanh; Xuất bản. Đây có thể coi là chìa khoá để mở ra cánh cửa công nghiệp văn hóa hướng tới mục tiêu đến năm 2030 đóng góp 7% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia phát triển về công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí ở châu Á, tiến tới khẳng định vị thế của công nghiệp văn hóa thế giới.
Hai năm 2024-2025, hàng loạt sự kiện văn hoá lớn của đất nước được tổ chức thành công rất tốt đẹp: Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, 80 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 95 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 80 năm Đề cương văn hóa Việt Nam, 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 100 năm Báo chí cách mạng Việt Nam, 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam... cùng hàng loạt hoạt động văn hóa, nghệ thuật, triển lãm,… thu hút, hấp dẫn hàng triệu người dân và khách quốc tế.
Các sự kiện, ngoài góp phần lan toả, nhân lên tình yêu Tổ quốc, còn là sự thúc đẩy ngành công nghiệp văn hóa phát triển. Đặc biệt, lĩnh vực điện ảnh trong 3 năm gần đây có nhiều bộ phim chất lượng có doanh thu lớn (cá biệt phim Mưa đỏ doanh thu gần 800 tỷ đồng). Theo đánh giá của ngành văn hoá, các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí tiếp tục có bước phát triển tích cực, có những đóng góp rất khả quan vào ngân khố quốc gia.
Văn nghệ sỹ và sự nghiệp sáng tạo “tác phẩm xứng đáng”
Khoa nhân học văn hóa quan niệm văn hóa có hai tầng, bề nổi, cái thấy được và bề chìm (tức chiều sâu) không thấy được. Bề nổi là những hiện vật, di sản, truyền thống lịch sử… ai cũng thấy. Quan trọng hơn, cái làm nên sức mạnh “mềm” văn hóa - tức sức mạnh tinh thần của cộng đồng, là ở bề sâu, mà cho đến nay chưa nhà nghiên cứu nào khái quát được vào các khái niệm khoa học, cụ thể. Vẫn gọi chung là “vô thức cộng đồng” chưa rõ ràng về ngoại diên và nội hàm khái niệm. Người Mỹ thành thực thú nhận họ thua Việt Nam là do chưa hiểu văn hóa Việt Nam tức là chưa hiểu cái phần chìm này. Thực ra không phải chỉ người Mỹ mà hầu hết đều chưa hiểu. Như vậy văn hoá vẫn còn là khu vực cần đầu tư nghiên cứu sâu nhiều hơn nữa, nhất là mảng tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh.
Xét đến cùng sứ mệnh cao cả nhất của các nhà văn hóa là kiến tạo những nhân cách văn hóa, tức con người. Văn hóa nào con người nấy. Thế nên vai trò của văn nghệ sĩ như là những kiến trúc sư “thiết kế” mô hình con người của tương lai. Quy luật tồn tại và phát triển của văn học nghệ thuật là quy luật của cái riêng, cái đơn nhất với cơ sở gốc là cá tính sáng tạo mà sự hình thành của nó, ngoài năng khiếu chủ quan còn là sự may mắn hội tụ tinh hoa của thời đại, vùng văn hóa, cuộc sống, nghề nghiệp... Khi kết tinh thành tài năng, cá tính sáng tạo lại trở về hòa nhập với đời sống. Những trái cây tác phẩm của họ như những hạt lúa vàng mẩy luôn có xu hướng níu mình về gốc. Những Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du... đều như thế. Không ngẫu nhiên, họ thường viết về cái bình thường, nhỏ bé như cây chuối, cây rau, hớp cháo...
Kế thừa, phát triển từ phản ánh luận, lý thuyết mô hình hiện đại quan niệm, về bản chất, sự sáng tạo tác phẩm nghệ thuật là tạo ra một mô hình đời sống mới. Là mô hình, chứ không phải bản thân đời sống (tức không sao chép), tác phẩm là “cuộc sống thứ hai” thoát thai từ đời sống thực, “sâu rễ, bền gốc” từ đời sống thực. Nhìn vào tác phẩm, vừa thấy hiện thực được khúc xạ, vừa thấy tài năng, tâm hồn người nghệ sỹ. “Hiện thực” ở đây là “cảm thấy” (chứ không phải “nhìn thấy”), tức “hiện thực” được nhào nặn, kết tinh từ vốn sống, hiểu biết, vốn đọc… của chủ thể. Nhờ vậy, hình tượng nghệ thuật mới lấp lánh sống động, bởi được ánh xạ từ các luồng sáng văn hóa từ nhiều đời sống, hôm qua, hôm nay, thậm chí cả ngày mai. Văn học phản ánh đời sống là đúng, nhưng chỉ là bề nổi. Chủ yếu là quá trình “liên văn hóa” bền bỉ và lâu dài diễn ra ở bề sâu, do không khí thời đại, do năng lực chủ quan cá nhân.
Căn cứ vào thực tế Đảng lãnh đạo thành công văn học nghệ thuật hơn 80 năm qua, dựa vào lý thuyết “triết học liên văn hóa” (The Intercultural Philosophy) mới, xin đưa ra vài bài học tham khảo trả lời câu hỏi làm thế nào để có “tác phẩm xứng đáng” như Bác Hồ nói:
Một, bài học bám sát vào sự lãnh đạo của Đảng. Không hề là chuyện chính trị, chỉ căn cứ vào thực tiễn từ Đổi mới 1986, đến Nghị quyết số 33-NQ/TW (2014) về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đến Nghị quyết 05-NQ/TW (2022) tập trung vào việc đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của Đảng về văn học, nghệ thuật, đều đem đến một sức sống mới cho văn hóa Việt Nam. Đó là đường lối, là ánh sáng, là điểm tựa cho văn nghệ phát triển đi lên. Đảng khởi xướng, lãnh đạo đổi mới sẽ là tiền đề cho văn nghệ Việt Nam mang một tầm vóc sánh vai với các nền văn nghệ năm châu. Dưới cờ Đảng, văn học nghệ thuật phục vụ nhân dân, đất nước, vì mục đích dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh. Đó là nguyên lý, chân lý, cũng là đạo lý.
Hai, Chủ nghĩa Mác coi hiện thực là nguồn gốc của nhận thức. Là một hình thái ý thức, văn nghệ càng phải đi sâu vào mảnh đất hiện thực, phải ngụp lặn xuống tận đáy dòng sông cuộc đời để nắm bắt, tìm hiểu, khái quát, mô tả bản chất cuộc sống. Thoát ly hiện thực, nghệ thuật nhất định khô héo. Một nhà văn nói muốn ướp được người, mình phải mặn trước. Một nhà triết học nói đại ý: phải cắn vỡ xương mới hút được tủy. Các vị ấy muốn nói tới sự nhập thân vào đời sống, dũng cảm tìm ra cái lõi của sự kiện mới viết hay được. Ngày nay chúng ta hay gọi là tâm huyết - tiền đề cho sáng tạo. Chỉ có từ đời sống, bắt nguồn từ đời sống mới có thể nảy nở những tài năng. Không có cách nào khác, muốn rèn luyện tài năng, người nghệ sĩ phải trở về cái gốc của nghệ thuật là đời sống sự thật muôn màu muôn vẻ.
Ba, lịch sử văn hóa nhân loại cho thấy bất kỳ sáng tác lớn nào cũng đều được bắt nguồn từ truyền thống và có những dấu ấn cách tân cá nhân rất rõ. Như vậy, sáng tạo phải bay nhịp nhàng trên đôi cánh truyền thống, dân tộc và đổi mới, hiện đại.
Bốn, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, để cạnh tranh với AI, như cây xanh, người nghệ sĩ phải cần cù cắm sâu các chùm rễ khỏe mạnh vào các mảnh đất truyền thống dân tộc, văn minh thế giới và cuộc sống đương đại; vươn cao cành lá vào bầu trời thời đại quang hợp ánh sáng lý tưởng của Chủ nghĩa Mác và Tư tưởng Hồ Chí Minh, của tình yêu hòa bình, hữu nghị; mới có thể kết được những trái tác phẩm vừa có mẫu số chung của văn hóa nhân loại, vừa nồng nàn tính riêng. Như đã nói ở trên, việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức, lập trường, bản lĩnh cho văn nghệ sĩ là rất quan trọng, phải được rèn luyện thường xuyên, thực chất, hiệu quả.
Quyết định chất lượng văn học nghệ thuật là chủ thể người nghệ sĩ. Do vậy, công tác phát triển văn hóa cần đầu tư trọng tâm vào vấn đề con người, từ phát hiện năng khiếu, giáo dục lý tưởng, bồi dưỡng nhân cách, tạo môi trường hoạt động…
Thời hội nhập và công nghệ, để cạnh tranh với AI, hướng đi tích cực nhất vẫn là “liên văn hóa”. Để đủ vốn kiến tạo những hình tượng bao bọc nhiều lớp nghĩa, đa dạng, phong phú về nội dung; sinh động, hấp dẫn về hình thức, tức tác phẩm sẽ “nói mãi không cùng”, người nghệ sĩ không chỉ đào sâu vào kho báu văn hóa nước nhà, còn phải “giải mã” để tích hợp chất vàng ròng văn hóa thế giới. Cũng chỉ theo con đường này, tác phẩm mới vươn tới cái đích “mẫu số chung” của văn hóa nhân loại. Tự nhiên, tầm tiếp nhận sẽ rộng mở ra nhiều chân trời khác nhau. Trong khi đó, dù “siêu” đến đâu chăng nữa, nhưng vì là “máy” nên AI không thể tạo ra “hiện thực cảm thấy” để có một “cuộc sống thứ hai” với sự thấu hiểu sâu sắc nhiều cảnh đời, thấu cảm đậm đà bao lẽ người…

Trong phát biểu chỉ đạo Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24 tháng 11 năm 2021, khi nói về những giải pháp cần tập trung...
Bình luận